Skip to main content

CHÍNH PHỦ

-------------

Số: 412/BC-CP

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2013

BÁO CÁO

Hoạt động tương trợ tư pháp năm 2013

Kính gửi: Quốc hội

Trong năm 2013, tình hình kinh tế trong nước có nhiều dấu hiệu bất ổn, tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp hơn so với dự báo trước đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Các ảnh hưởng không thuận lợi đó đã tác động mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội, dân sự, thương mại, làm gia tăng tranh chấp, các vụ việc, vụ án có yếu tố nước ngoài cần được giải quyết tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó, yêu cầu tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và nước ngoài cũng tăng lên về số lượng, đa dạng và phức tạp hơn về nội dung. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm chỉ đạo và có giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả tổ chức thực Luật Tương trợ tư pháp.

Thực hiện Điều 61 Luật Tương trợ tư pháp, Chính phủ xin báo cáo Quốc hội về hoạt động tương trợ tư pháp năm 2013 (từ 01/10/2012 đến 30/9/2013) như sau:

Phần I

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Thực hiện quy định của Luật Tương trợ tư pháp (Điều 61) về trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP), Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ (Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính) và đề nghị Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (Viện KSNDTC) phối hợp triển khai đồng bộ các hoạt động nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động TTTP một cách toàn diện. Về công tác hoàn thiện thể chế trong nước, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kết quả rà soát pháp luật về TTTP, chỉ đạo các Bộ và đề nghị TANDTC, Viện KSNDTC nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định về TTTP thuộc phạm vi thẩm quyền của mình .

Về công tác điều ước quốc tế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ Tư pháp, Công an, Ngoại giao và đề nghị TANDTC, Viện KSNDTC rà soát tình hình thực hiện các điều ước quốc tế song phương về TTTP trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù để có giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi; đẩy mạnh nghiên cứu, đề xuất việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về TTTP ; Xây dựng Kế hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam .

Về tổ chức thực hiện hoạt động TTTP, trên cơ sở kết quả sơ kết 3 năm thi hành Luật TTTP, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ ngành tăng cường công tác phối hợp trong hoạt động đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế; triển khai hoạt động kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn địa phương trong thực hiện ủy thác tư pháp (UTTP).

2. Với vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về TTTP, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, TANDTC, Viện KSNDTC triển khai các hoạt động quản lý nhà nước chung về TTTP theo quy định của Luật TTTP và Nghị định 92/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTP, cụ thể như: Chủ trì thực hiện và thông báo kết quả rà soát pháp luật về TTTP tới các Bộ, ngành để triển khai; Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành tiến hành rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các Hiệp định TTTP theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ để trình Chính phủ vào Quý IV năm 2013; Chủ trì xây dựng Kế hoạch dài hạn về đàm phán, ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế về TTTP; Tổ chức Đoàn công tác liên ngành kiểm tra công tác thực hiện UTTP về dân sự tại một số địa phương trong nước và một số địa bàn nước ngoài mà Việt Nam có nhiều UTTP; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, TANDTC, Viện KSNDTC thực hiện nghiêm túc công tác báo cáo định kỳ 6 tháng và hàng năm theo quy định.

Ở cấp Trung ương, các Bộ đã tăng cường phối hợp với TANDTC, Viện KSNDTC trong công tác xây dựng pháp luật và điều ước quốc tế về TTTP. Cụ thể là tham gia góp ý, thẩm định văn bản, cử đại diện tham gia các đoàn đàm phán, ban soạn thảo do các Bộ, ngành khác chủ trì, phối hợp xử lý những vụ việc yêu cầu UTTP có tính chất nhạy cảm và phức tạp (trường hợp yêu cầu Việt Nam cam kết không tuyên án tử hình, yêu cầu hỗ trợ mang tính chất hình sự trong vụ việc dân sự mà pháp luật trong nước chưa quy định). Đối với các Hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký kết với các nước thuộc khối XHCN trước đây, các Bộ cùng với TANDTC, Viện KSNDTC thống nhất về cách thức tiếp cận đối với việc sửa đổi theo hướng tách các Hiệp định này thành các Hiệp định riêng về từng lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù để phù hợp với sự phát triển của quan hệ hợp tác quốc tế và xu thế đàm phán, ký kết các hiệp định song phương về TTTP hiện nay và đã được Chính phủ nhất trí.

Bộ Ngoại giao đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức họp trao đổi và thống nhất về quy trình đàm phán, ký và phê chuẩn các điều ước quốc tế về TTTP trong các lĩnh vực để đảm bảo tuân thủ thống nhất quy định của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp đã tổ chức các cuộc họp, trao đổi về cách thức áp dụng nguyên tắc có đi có lại khi thực hiện UTTP về dân sự với những nước chưa ký kết Hiệp định TTTP với Việt Nam.

Nhằm hỗ trợ cho các cán bộ trực tiếp làm UTTP ở địa phương, các cơ quan đầu mối cũng tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo về các chủ đề TTTP trong các lĩnh vực dân sự, hình sự. Cụ thể như hai lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ TTTP về dân sự đã được tổ chức cho các thẩm phán, các chấp hành viên thi hành án dân sự trên toàn quốc; tổ chức Hội nghị tập huấn công tác TTTP về hình sự năm 2013. Bên cạnh đó, hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ cho các cơ quan trực tiếp xử lý các yêu cầu TTTP được triển khai ở cả bốn lĩnh vực thông qua việc các cơ quan trung ương có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ hoặc hỗ trợ trực tiếp cho địa phương trong quá trình thực hiện các yêu cầu TTTP cụ thể; áp dụng công nghệ thông tin vào công tác TTTP cũng bắt đầu được triển khai.

3. Ở cấp địa phương, việc thực hiện UTTP về dân sự chủ yếu do Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện , bên cạnh đó có một số lượng nhỏ yêu cầu UTTP gửi đi nước ngoài từ cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; hoạt động TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù do Viện kiểm sát, cơ quan công an hoặc cơ quan cảnh sát điều tra cấp tỉnh thực hiện. Tòa án nhân dân và cơ quan tố tụng hình sự cấp tỉnh đã nghiêm túc thực hiện yêu cầu UTTP nước ngoài, đạt được kết quả tích cực. Bên cạnh đó, các cơ quan ở địa phương cũng chủ động liên hệ với các cơ quan đầu mối trung ương đề nghị hướng dẫn trước khi lập hồ sơ yêu cầu UTTP gửi ra nước ngoài để đảm bảo đúng thủ tục, hạn chế việc phải trả lại hồ sơ để hoàn thiện.

II. XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ

1. Soạn thảo và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Tương trợ tư pháp

Theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp (Điều 72), Quốc hội giao Chính phủ, Viện KSNDTC quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Đến nay, các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) hướng dẫn thi hành Luật TTTP đã được Chính phủ, Viện KSNDTC hoàn thành .

Bên cạnh đó, để thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực, các Bộ, Viện KSNDTC cũng chủ động xây dựng, ban hành theo thẩm quyền 06 văn bản QPPL.

Các văn bản QPPL được soạn thảo và ban hành trong thời gian qua đã hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp của các cơ quan trong thực hiện các hoạt động TTTP về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, góp phần tạo cơ sở pháp lý đồng bộ thực hiện Luật TTTP hiệu quả.

2. Rà soát pháp luật về tương trợ tư pháp và triển khai kết quả rà soát

Bên cạnh việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TTTP, Bộ Tư pháp đã chủ trì phối hợp với các Bộ Công an, Ngoại giao, TANDTC, Viện KSNDTC tiến hành tổng rà soát các quy định pháp luật về TTTP và trình Chính phủ Báo cáo rà soát pháp luật về TTTP .

Báo cáo này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 12/10/2012, tạo cơ sở quan trọng để các cơ quan chủ trì trong từng lĩnh vực TTTP chủ động nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy định pháp luật liên quan đến TTTP, góp phần tiến tới tạo sự đồng bộ và thống nhất giữa các văn bản pháp luật chuyên ngành và quy định của Luật TTTP. Trên cơ sở kết quả rà soát này, cơ quan liên quan đã đề xuất đưa nội dung sửa đổi vào việc soạn thảo, sửa đổi, bổ sung các văn bản QPPL có trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội như: Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Thi hành án dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tố tụng hành chính, hay nghị định do Chính phủ ban hành như Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự.

III. VỀ KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương

Trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Bộ Tư pháp đã chủ trì phối hợp với các Bộ và cơ quan hữu quan hoàn thành thủ tục phê chuẩn 02 Hiệp định theo quy định của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; ký Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự giữa CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia; tiến hành đàm phán 02 Hiệp định (với 3 vòng đàm phán), trong đó có Hiệp định TTTP về dân sự với Hàn Quốc (xin xem Phụ lục II).

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao cũng đã tích cực, chủ động tìm các khả năng đàm phán, ký kết hiệp định với những nước mà Việt Nam có nhiều nhu cầu hợp tác trong lĩnh vực TTTP về dân sự như Nhật Bản, Ô-xtơ-rây-li-a, Cộng hòa Liên bang Đức, Hoa Kỳ.

Trong lĩnh vực dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Bộ Công an đã chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan hoàn thành các thủ tục phê chuẩn 03 Hiệp định; hoàn thành đàm phán và ký 02 Hiệp định về dẫn độ và 01 Hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; tiến hành đàm phán 01 Hiệp định về dẫn độ và 01 Hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù (xin xem Phụ lục II).

Trong lĩnh vực hình sự, Viện KSNDTC đã phối hợp với các Bộ Công an, Tư pháp, Ngoại giao và TANDTC hoàn thành đàm phán và ký 01 Hiệp định TTTP về hình sự giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a; tiến hành đàm phán 02 Hiệp định TTTP về hình sự với Nam Phi và Ô-xtơ-rây-li-a; xây dựng Mẫu Hiệp định TTTP về hình sự của Việt Nam để làm cơ sở xây dựng phương án đàm phán với các nước (xin xem Phụ lục II).

Trong năm qua, hoạt động đàm phán, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về TTTP trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đều đảm bảo đúng quy định của Luật TTTP, Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế và có những bước tiến đáng ghi nhận về cả số lượng và chất lượng .

2. Về ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế đa phương

a) Trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế

- Với nỗ lực của các Bộ, ngành, Việt Nam đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết và hoàn thành thủ tục gia nhập Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế - tổ chức liên chính phủ có uy tín nhất toàn cầu về tư pháp quốc tế (sau đây gọi là Hội nghị La Hay). Ngày 28/9/2012, Bộ trưởng Bộ Tư pháp được sự ủy quyền của Chính phủ Việt Nam đã ký và trình văn bản xin gia nhập Hội nghị La Hay. Tại Phiên họp toàn thể thứ 5 các nước thành viên Hội nghị La Hay đã nhất trí kết nạp Việt Nam là thành viên đầy đủ thứ 73 của Tổ chức này kể từ ngày 10/4/2013. Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển mới về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tư pháp quốc tế của Việt Nam, tạo tiền đề cho Việt Nam nghiên cứu, gia nhập các công ước quốc tế về tư pháp quốc tế trong tương lai.

- Đồng thời với việc hoàn tất các thủ tục gia nhập Hội nghị La Hay, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ và các cơ quan hữu quan xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam (Kế hoạch). Kế hoạch này đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành tháng 8/2013 .

- Hoàn thành Đề án gia nhập Công ước La Hay về miễn hợp pháp hoá giấy tờ công nước ngoài (Công ước Aposttile) theo Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn 2012-2016: Đây là công ước phổ cập và thành công nhất của Hội nghị La Hay với 105 thành viên tham gia, quy định thủ tục đơn giản để chứng nhận tính xác thực của giấy tờ công sử dụng ở các nước thành viên. Thực hiện phân công của Chính phủ, Bộ Ngoại giao đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan hữu quan nghiên cứu, hoàn thành Đề án trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở đó, vào tháng 4 năm 2013, Bộ Ngoại giao đã thay mặt Chính phủ Việt Nam gửi Hội nghị La Hay văn bản bày tỏ nguyện vọng được gia nhập Công ước này.

- Xây dựng Đề án nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước La Hay về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp theo Chương trình công tác năm 2013 của Chính phủ: Đây là công ước đa phương quan trọng nhất trong lĩnh vực tống đạt giấy tờ ra nước ngoài, quy định một quy trình đơn giản hóa thủ tục tống đạt giấy tờ so với các kênh tống đạt truyền thống (thông qua kênh lãnh sự, ngoại giao), góp phần làm giảm chi phí tố tụng, đảm bảo hoạt động tống đạt có kết quả và đáp ứng thời gian tố tụng. Công ước đã có 68 thành viên trong đó có những nước mà Việt Nam có nhu cầu cao hợp tác TTTP về dân sự như Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Đức. Thực hiện phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đang chủ trì phối hợp với các Bộ và các cơ quan hữu quan triển khai xây dựng Đề án nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước và trình Chính phủ vào Quý IV năm 2013. Đề án này sẽ là tiền đề thuận lợi cho Việt Nam quyết định chính thức gia nhập Công ước trong thời gian tới, tạo cơ sở pháp lý quốc tế để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện UTTP về dân sự của Việt Nam mà hiện yêu cầu tống đạt giấy tờ, tài liệu đang chiếm đa số trong đó.

b) Trong khuôn khổ ASEAN

Về hợp tác quốc tế về TTTP trong lĩnh vực dân sự, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành tiếp tục triển khai “Sáng kiến về tăng cường TTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại giữa các quốc gia thành viên trong ASEAN”. Tháng 11/2012, Việt Nam đã chủ trì tổ chức Phiên họp lần thứ 3 của Nhóm Công tác ASEAN để thảo luận xây dựng dự thảo Hiệp định khu vực về miễn hợp pháp hóa giấy tờ, tài liệu công nước ngoài và hiện đang phối hợp với các nước thành viên ASEAN trao đổi về khả năng xây dựng Hiệp định này.

3. Thực hiện các Hiệp định Tương trợ tư pháp

a) Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các Hiệp định Tương trợ tư pháp song phương

Sau Hội nghị sơ kết 3 năm thi hành Luật TTTP, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ và đề nghị TANDTC, Viện KSNDTC phối hợp rà soát, đánh giá tổng thể tình hình thực hiện các Hiệp định TTTP đang có hiệu lực trên cả 4 lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các Hiệp định TTTP. Bộ Tư pháp đang chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, TANDTC, Viện KSNDTC triển khai hoạt động này và trình Chính phủ vào Quý IV năm 2013.

b) Tổ chức thực hiện các Hiệp định

Hiện Việt Nam có 24 Hiệp định/Thỏa thuận TTTP trong cả bốn lĩnh vực đã được ký kết. Các Bộ và các cơ quan hữu quan đều cố gắng tổ chức thực hiện các Hiệp định này. Trong năm qua, việc thực hiện các Hiệp định TTTP đã đạt được kết quả đáng khích lệ (được nêu cụ thể tại mục 1, Phần VI ở dưới đây).

Một điểm đáng chú ý trong lĩnh vực dân sự, Thoả thuận giữa Văn phòng Kinh tế và văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc và Văn phòng Kinh tế và văn hóa Đài Bắc tại Việt Nam về TTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại đã được triển khai nghiêm túc và bài bản. Bộ Tư pháp, với vai trò là cơ quan Trung ương đã chủ động và tích cực phối hợp với cơ quan đầu mối phía lãnh thổ Đài Loan tổ chức ba đoàn công tác trao đổi giữa hai Bên để thảo luận, thống nhất về phương thức thực hiện Thỏa thuận, như thiết lập được mối liên hệ trực tiếp, thường xuyên để kịp thời giải quyết vướng mắc trong thực tế thực hiện các yêu cầu UTTP; thống nhất các mẫu hồ sơ UTTP; định kỳ tổ chức rà soát, đánh giá tình hình thực hiện… qua đó góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các yêu cầu UTTP của cả hai Bên đạt kết quả khả quan (đạt 65% so với 0% trước khi Thỏa thuận có hiệu lực). Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho các cơ quan của Việt Nam thực hiện nghiêm túc Thỏa thuận, Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với TANDTC tổ chức tập huấn về Thỏa thuận cho các cán bộ trực tiếp làm công tác UTTP ở một số tỉnh, thành phố phía Nam có nhiều hoạt động UTTP với lãnh thổ Đài Loan.

c) Đăng tải các Hiệp định đã ký kết

Các cơ quan đầu mối về TTTP đã tập hợp, rà soát và thực hiện đăng tải các Hiệp định định TTTP đang có hiệu lực lên cổng thông tin điện tử của cơ quan mình để tạo thuận lợi cho các đối tượng có liên quan có thể tiếp cận.

IV. THỰC HIỆN ỦY THÁC TƯ PHÁP

1. Tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự

Số liệu thống kê cho thấy số lượng yêu cầu UTTP về dân sự của Việt Nam gửi đi nước ngoài và nhận của nước ngoài đều tăng mạnh so với số lượng yêu cầu UTTP trung bình hàng năm được thực hiện thời gian trước đó. Xin xem Biểu dưới đây.

image

a) Đối với yêu cầu ủy thác tư pháp do các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam gửi đi nước ngoài

Tổng số yêu cầu UTTP của các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam gửi đi nước ngoài qua đầu mối Bộ Tư pháp là 3.777 yêu cầu, trong đó gửi đi những nước đang có Hiệp định TTTP với Việt Nam là 498 yêu cầu; gửi đi những nước chưa có Hiệp định TTTP với Việt Nam là 3.279 yêu cầu.

image

Tổng số yêu cầu UTTP đã có trả lời gửi qua Bộ Tư pháp là 1.710/3.777 yêu cầu, trong đó kết quả trả lời từ những nước có Hiệp định TTTP là 346/498 yêu cầu; Kết quả trả lời từ những nước chưa có Hiệp định TTTP với Việt Nam là 1.4423/3.279 yêu cầu, trong đó 80% là thông báo kết quả thực hiện các yêu cầu UTTP cho công dân Việt Nam ở nước ngoài bằng hình thức niêm yết tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.  

image

Các yêu cầu UTTP chủ yếu là tống đạt giấy tờ, tài liệu, bản án (chiếm trên 80%), còn lại là yêu cầu thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự. Về nội dung, số lượng UTTP liên quan đến các vụ việc về hôn nhân gia đình chiếm 55%, về dân sự (ngoài hôn nhân gia đình) là 41%, về thương mại 3% và về các lĩnh vực khác (hành chính, lao động, hộ tịch…) là 1%.

Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có nhiều yêu cầu UTTP gửi đi nhất chiếm khoảng 52%, tiếp sau đó là Toà án nhân dân các tỉnh, thành phố Hà Nội, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tây Ninh, Bạc Liêu, Sóc Trăng. Bên cạnh đó, đã xuất hiện yêu cầu UTTP từ các Tòa án mà trước đây chưa bao giờ có yêu cầu TTTP như Khánh Hòa, Phú Yên, Lâm Đồng, Quảng Nam, Quảng Bình.

Năm nước mà Việt Nam gửi đi nhiều UTTP nhất là: Hoa kỳ, Canada, lãnh thổ Đài Loan, Úc, Hàn Quốc.

b) Đối với yêu cầu tương trợ tư pháp của cơ quan thẩm quyền nước ngoài gửi tới Việt Nam

Bộ Tư pháp nhận được là 872 yêu cầu UTTP của nước ngoài, trong đó từ những nước đã có Hiệp định TTTP với Việt Nam là 710 yêu cầu; từ những nước không có Hiệp định TTTP với Việt Nam là 162 yêu cầu. Xin xem biểu dưới đây.

image

Về kết quả thực hiện, Bộ Tư pháp đã nhận được 405 kết quả trả lời do các cơ quan Việt Nam thực hiện, trong đó có 338 kết quả thực hiện yêu cầu cho các nước có Hiệp định TTTP với Việt Nam và 67 kết quả thực hiện yêu cầu cho các nước chưa có Hiệp định TTTP với Việt Nam.

Các yêu cầu UTTP của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phần lớn là tống đạt hồ sơ, tài liệu, thu thập chứng cứ, lấy lời khai, cung cấp thông tin về hộ tịch như các năm trước, trong đó yêu cầu UTTP liên quan đến vụ việc về hôn nhân, gia đình chiếm trên 62%; về dân sự (ngoài hôn nhân gia đình) chiếm khoảng 31% và về thương mại chiếm 7%. Đặc biệt, trong thời gian gần đây đã phát sinh những yêu cầu UTTP có nội dung mới, phức tạp hơn như yêu cầu hỗ trợ áp dụng các biện pháp khẩn cấp.

Số lượng 5 nước/vùng lãnh thổ có yêu cầu UTTP gửi tới Việt Nam nhiều nhất trong năm qua là lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Séc.

Như vậy, qua số liệu về tình hình thực hiện các yêu cầu UTTP dân sự của Việt Nam gửi đi nước ngoài và tiếp nhận của nước ngoài trong năm qua cho thấy, dù số liệu của năm 2013 được tính trong 15 tháng nhưng tỷ lệ trung bình kết quả thực hiện cả hai loại yêu cầu UTTP này đạt được trong năm qua đều cao hơn so với thời gian trước. Xin xem chi tiết tại Biểu dưới đây.

image

Công tác tổ chức thực hiện UTTP, đặc biệt là quy trình, thủ tục lập hồ sơ UTTP ở các cơ quan trung ương cũng như địa phương có nhiều chuyển biến tích cực rõ rệt, tuân thủ đúng các quy định của Luật TTTP và điều ước quốc tế về TTTP, tỷ lệ hồ sơ bị trả lại do không hợp lệ đã giảm đi xuống, góp phần tiết kiệm thời gian, nhân lực, tài lực thực hiện .

Số liệu thống kê cũng cho thấy rõ, kết quả thực hiện UTTP với các nước trên cơ sở có điều ước quốc tế cũng cao hơn nhiều so với các nước không ký Hiệp định TTTP với Việt Nam. Điều này thể hiện sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về TTTP để tạo cơ sở pháp lý quốc tế hỗ trợ cho quá trình thực hiện TTTP giữa Việt Nam với nước ngoài đạt hiệu quả cao hơn.

Về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam:

Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, tính từ 01/7/2012 đến 30/9/2013, Bộ Tư pháp đã tiếp nhận và chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xem xét 35 đơn yêu cầu (trong đó có 2 đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành Bản án của Tòa án nước ngoài và 33 đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài). Theo đó, Tòa án giải quyết 9/35 yêu cầu, trong đó công nhận và cho thi hành 2 quyết định của tòa án nước ngoài và 01 quyết định của Trọng tài nước ngoài; không công nhận 06 quyết định của Trọng tài nước ngoài.

2. Về thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự

Với vai trò là Cơ quan Trung ương trong hoạt động TTTP về hình sự, Viện KSNDTC đã tiếp nhận và xử lý các yêu cầu TTTP về hình sự, cụ thể như sau:

a) Tình hình giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài gửi đến Việt Nam

Viện KSNDTC đã tiếp nhận và xử lý 372 yêu cầu do nước ngoài chuyển đến, trong đó 86% yêu cầu liên quan từ các nước đã ký Hiệp định với Việt Nam .

Nội dung yêu cầu TTTP về hình sự chủ yếu liên quan đến việc thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt tài liệu, giấy tờ, chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra có 01 yêu cầu cho phép điều tra viên của nước ngoài vào Việt Nam tham gia quá trình điều tra.

b) Tình hình giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của cơ quan thẩm quyền Việt Nam gửi đi nước ngoài

Viện KSNDTC đã thụ lý, giải quyết 119 yêu cầu từ các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam để đề nghị phía nước ngoài hỗ trợ thực hiện, trong đó 77% yêu cầu liên quan đến các nước đã ký Hiệp định với Việt Nam. Nội dung yêu cầu tương trợ chủ yếu liên quan đến việc thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt tài liệu, giấy tờ. Đặc biệt, gần đây đã phát sinh một số yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam liên quan đến thu hồi tài sản do phạm tội mà có ở các nước.

Qua tình hình thực hiện TTTP về hình sự thời gian gần đây cho thấy số lượng các yêu cầu TTTP về hình sự có xu hướng tăng mạnh, năm sau đều cao hơn so với năm trước . Tính chất các yêu cầu ngày càng đa dạng, phức tạp, nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực và tội phạm nghiêm trọng như mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, tham nhũng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, rửa tiền, tham ô tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và các tội phạm xâm phạm sở hữu khác, các tội phạm ma túy, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người như giết người, hiếp dâm... Đáng chú ý, gần đây đã xuất hiện một số yêu cầu liên quan đến tội phạm công nghệ cao và thu hồi tài sản do phạm tội mà có.

Đối với những yêu cầu TTTP có nội dung phức tạp, Viện KSNDTC đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trong nước và ngoài nước để theo dõi tình hình triển khai, giải quyết vướng mắc phát sinh nhằm thực hiện yêu cầu một cách tốt nhất trong khả năng có thể, phù hợp với pháp luật.

3. Về thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

a) Về dẫn độ

Bộ Công an đã lập và chuyển 10 hồ sơ yêu cầu dẫn độ đối tượng từ nước ngoài về Việt Nam trong đó có 06 các yêu cầu dẫn độ được gửi các nước có hiệp định TTTP với Việt Nam .

Bộ Công an cũng đã tiếp nhận và xử lý 04 hồ sơ yêu cầu dẫn độ đối tượng từ Việt Nam ra nước ngoài (03 yêu cầu từ Liên bang Nga, 01 yêu từ Cộng hòa Séc) trên cơ sở các Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và các nước này, trong đó: 02 hồ sơ không bảo đảm yêu cầu, đã đề nghị phía nước ngoài bổ sung thông tin; 02 hồ sơ đáp ứng yêu cầu, đã chuyển Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết.

b) Về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Bộ Công an đã làm thủ tục chuyển giao thành công 03 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam về nước ngoài tiếp tục thi hành án ; hoàn thành hồ sơ chuyển Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, ra quyết định chuyển giao đối với 06 trường hợp từ Anh về Việt Nam (theo Hiệp định); đã cung cấp thông tin của 26 phạm nhân nước ngoài để phục vụ việc xem xét, chuyển giao (phần lớn là các phạm nhân có quốc tịch Ô-xtrây-li-a theo Hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa hai nước).

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Về kết quả đạt được

Trong năm qua, Chính phủ, TANDTC, Viện KSNDTC và các cơ quan có liên quan và địa phương đã có nhiều nỗ lực thực thi Luật TTTP trên tất cả các mặt để từng bước nâng cao hiệu quả của công tác này, đưa tỷ lệ kết quả thực hiện UTTP tăng lên đáng kể. Hoạt động TTTP đã thể hiện vai trò tích cực, góp phần nhất định vào việc ổn định đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Về công tác chỉ đạo điều hành và tổ chức hiện hoạt động TTTP, Chính phủ và các Bộ, cơ quan hữu quan đã quan tâm chỉ đạo và bước đầu triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện đủ và tốt các nhiệm vụ theo quy định của Luật TTTP, qua đó đã từng bước nâng cao hiệu quả của các mặt công tác TTTP trong cả bốn lĩnh vực.

Về xây dựng và hoàn thiện thể chế về TTTP, trong năm qua, các Bộ và TANDTC, Viện KSNDTC đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng văn bản QPPL theo yêu cầu của Luật TTTP và chủ động soạn thảo để ban hành các văn bản QPPL hướng dẫn thực hiện Luật TTTP theo thẩm quyền , tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động TTTP.

Về công tác ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về TTTP trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, đã hoàn thành về cơ bản các nhiệm vụ trọng tâm năm 2013 về công tác điều ước quốc tế đã được Chính phủ đề xuất tại Báo cáo hoạt động TTTP trình kỳ họp thứ 4, Quốc khóa XIII . Bên cạnh hoạt động hợp tác song phương, Chính phủ và các cơ quan hữu quan cũng chủ động và tích cực hơn trong hợp tác quốc tế đa phương và đã đạt được kết quả đáng khích lệ, góp phần xây dựng và nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trong hoạt động hợp tác về tư pháp quốc tế ở cấp độ toàn cầu. Các điều ước quốc tế về TTTP được ký kết và đi vào thực hiện đã tạo cơ sở pháp lý góp phần tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy hoạt động hợp tác trong lĩnh vực TTTP giữa Việt Nam với các nước.

Về thực hiện các yêu cầu UTTP, số lượng yêu cầu UTTP về dân sự, hình sự được thực hiện có kết quả tăng hàng năm đã giúp các cơ quan tố tụng, tư pháp trong nước và nước ngoài xử lý các vụ việc đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan, mang lại những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế, bảo vệ trật tự an ninh và ổn định xã hội, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Đồng thời, các chủ thể của pháp luật sẽ yên tâm hơn khi tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài do nếu các tranh chấp phát sinh, giữa họ (nếu có) sẽ được giải quyết một các thỏa đáng thông qua sự trợ giúp hữu hiệu của hoạt động TTTP quốc tế.

2. Về tồn tại, bất cập và nguyên nhân

Mặc dù các Bộ, ngành đã có nhiều cố gắng nhưng hoạt động TTTP vẫn còn những tồn tại, bất cập nhất định và ở chừng mực nào đó chưa theo kịp yêu cầu khách quan của sự phát triển nhanh chóng của quan hệ quốc tế. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân trong đó có những nguyên nhân từ thể chế và thực thi pháp luật, từ nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động TTTP. Đồng thời, phải kể đến đặc thù của hoạt động TTTP là vừa gắn với pháp luật và thực tiễn tố tụng trong nước, các quy định của điều ước quốc tế và phụ thuộc vào thể chế và sự hợp tác của phía đối tác nước ngoài. Do vậy, để có thể giải quyết toàn diện và triệt để những hạn chế, bất cập không thể trong thời gian ngắn mà cần có lộ trình thời gian để từng bước khắc phục. Chính phủ và các Bộ, ngành đã thẳng thắn đánh giá những bất cập, hạn chế của hoạt động TTTP và nguyên nhân, để từ đó đưa ra các giải pháp mạnh mẽ, triệt để hơn nữa nhằm tạo bước đột phá trong hoạt động TTTP trong thời gian tới, cụ thể như sau:

a) Công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước trong hoạt động tương trợ tư pháp

Cùng với những bước tiến đã đạt được thì công tác quản lý nhà nước vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập cả từ góc độ thể chế đến thực tiễn tổ chức thực hiện cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hơn.

Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước chung về TTTP theo quy định của Luật TTTP khó phát huy hiệu quả. Mặc dù Luật TTTP và Nghị định 92/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTP đã có quy định chi tiết nhưng công tác báo cáo, kiểm điểm đánh giá rút kinh nghiệm còn chưa được các Bộ, ngành đầu tư tương xứng với yêu cầu, vẫn còn mang nặng tính hành chính mà chưa đi sâu đánh giá được những tác động của công tác TTTP đến hoạt động tố tụng trong nước, việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức có liên quan, việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách pháp luật và cải cách tư pháp, đến tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước.

Cho đến nay, tại TANDTC vẫn chưa có một đơn vị đầu mối chính thức về TTTP, dẫn đến sự phân công chồng chéo trong quá trình tổ chức thực hiện, sự phối hợp giữa TANDTC với tư cách cơ quan quản lý với các tòa án cấp tỉnh, thành phố trong triển khai công tác TTTP chưa thật sự chặt chẽ, chậm chễ trong việc cung cấp các thông tin, báo cáo phục vụ cho việc xây dựng, đề xuất về mặt chính sách, pháp luật.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên phải kể đến:

- Luật TTTP hiện hành chưa có quy định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp và đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước chung với cơ quan đầu mối trong từng lĩnh vực. Việc thiếu cơ sở pháp lý này đã làm hạn chế hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động TTTP. Điều này càng bất cập trong bối cảnh Bộ Tư pháp, cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước chung về TTTP trong đó có cả TTTP về hình sự thuộc thẩm quyền của Viện KSNDTC, TTTP về dẫn độ và chuyển giao người đáng chấp hành hình phạt tù thuộc thẩm quyền của Bộ Công an lại không có chức năng quản lý hệ thống tư pháp tương tự như Bộ Tư pháp các nước khác trên thế giới. Thực tế khi đàm phán các điều ước quốc tế về TTTP thì phía Việt Nam có 3 cơ quan khác nhau làm đầu mối trong khi đó phía nước ngoài thường chỉ có một cơ quan đầu mối (thường là Bộ Tư pháp).

- Sự đầu tư, quan tâm và nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của TTTP ở các Bộ, ngành và địa phương còn chưa đồng đều. Đội ngũ cán bộ làm công tác TTTP còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.

- Hoạt động TTTP ngày càng phức tạp về nội dung, gia tăng về khối lượng với yêu cầu ngày càng cao, tuy nhiên, việc bố trí cán bộ, kinh phí và các điều kiện cần thiết cho hoạt động này còn chưa theo kịp với sự phát triển của nhiệm vụ thực hiện.

b) Công tác hoàn thiện thể chế

Pháp luật tố tụng trong nước còn thiếu sự đồng bộ và chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động TTTP.

Các quy định pháp luật tố tụng hiện hành (như Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự) chưa tính hết yếu tố đặc thù của các vụ việc có yếu tố nước ngoài cần UTTP. Hiện nay quy trình, thời hạn tố tụng để giải quyết vụ việc, vụ án có yếu tố nước ngoài vẫn được áp dụng chung như với các vụ việc trong nước, trong khi yêu cầu UTTP thường làm thời gian tố tụng trong nước kéo dài hơn (có khi đến hàng năm), kết quả UTTP nhiều khi không được đảm bảo, làm cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan gặp lúng túng trong quá trình thực hiện hoạt động TTTP và tiến hành tố tụng. Ví dụ: Bộ luật Tố tụng dân sự không có quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ việc có yêu cầu ủy thác tư pháp; việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi Tòa án không nhận được kết quả thực hiện UTTP hoặc yêu cầu UTTP không thể thực hiện được; hay quyền kháng cáo của đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt họ. Tương tự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thiếu các điều khoản quy định về thời hạn tố tụng áp dụng trong trường hợp vụ án có yêu cầu nước ngoài thực hiện TTTP, các quy định về trình tự, thủ tục tống đạt các giấy tờ, tài liệu tố tụng cho người tham gia tố tụng ở nước ngoài; căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp chưa nhận được kết quả UTTP mà thời hạn giải quyết vụ án đã hết … Luật Thi hành án dân sự thiếu các quy định về căn cứ xử lý tài sản và các biện pháp xử lý tài sản khi người phải thi hành án ở nước ngoài.

Do đó, để hoạt động UTTP phục vụ thiết thực và hiệu quả cho hoạt động tố tụng thì hệ thống quy pháp luật tố tụng trong nước cũng phải được hoàn thiện, có tính đến những yêu cầu đặc thù của các vụ việc có yêu cầu UTTP để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tế và khả thi.

Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là:

Thứ nhất, Luật TTTP mới được ban hành và có hiệu lực từ năm 2008, trong khi đó, nhiều văn bản QPPL về tố tụng trong nước đã được ban hành từ trước đó khá lâu nên chưa dự liệu hết được sự ảnh hưởng của hoạt động TTTP đến tố tụng trong nước.

Thứ hai, hoạt động ủy thác tư pháp là một yêu cầu tất yếu khi thực hiện quá trình tố tụng trong nước mà có gắn với yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, nhận thức về vai trò và vị trí của TTTP trong hoạt động tố tụng chung của các cơ quan tố tụng, tư pháp còn hạn chế và chưa đồng đều dẫn đến tình trạng khi xây dựng và ban hành các văn bản QPPL tố tụng trong nước các cơ quan không tính đến các đặc thù của hoạt động TTTP đặt ra đối với quá trình tố tụng chung.

c) Về hoạt động đàm phán, ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp

Mục tiêu tập trung đẩy mạnh đàm phán Hiệp định TTTP về dân sự với những nước mà Việt Nam có nhiều UTTP như Hoa Kỳ, Canada, Đức, Nhật Bản chưa được kết quả mong muốn dù Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp đã cố gắng, trao đổi đề xuất đàm phán, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác TTTP.

Hoạt động rà soát, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện các hiệp định về TTTP mới chỉ được thực hiện bước đầu với số lượng ít. Bên cạnh đó, các cơ quan đầu mối của phía Việt Nam trong các Hiệp định cũng chưa thiết lập và duy trì được mối liên hệ với phía đối tác để hỗ trợ cho quá thực thi Hiệp định. Đây là một trong những lý do khiến vẫn còn một tỷ lệ khá cao yêu cầu UTTP về dân sự trên cơ sở các hiệp định song phương không có kết quả (chiếm 31%) mà chưa tìm hết được nguyên nhân để từ đó đưa ra đề xuất giải pháp khắc phục.

Có thể nêu một số nguyên nhân của hạn chế, bất cập trên trong công tác đàm phán, ký kết và thực thi các điều ước về TTTP đó là:

Về mặt khách quan, hoạt động đàm phán, ký kết điều ước quốc tế phụ thuộc khá lớn vào thiện chí và nhu cầu của nước đối tác. Trong nhiều trường hợp, dù phía Việt Nam có mong muốn được đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhưng phía nước ngoài không có nhu cầu do nhiều nước đã tham gia các thiết chế đa phương có liên quan. Cụ thể những nước mà Việt Nam có nhu cầu cao về UTTP tống đạt giấy tờ trong lĩnh vực dân sự như Hoa kỳ, Úc, Đức… đều không muốn đàm phán Hiệp định TTTP về dân sự song phương với Việt Nam mà thay vào đó lại đề nghị Việt Nam gia nhập Công ước La Hay về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp. Điều này cho thấy việc nghiên cứu, gia nhập thiết chế đa phương có nội dung về TTTP là rất cần thiết đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Hầu hết các Hiệp định được ký trước khi Luật TTTP được ban hành đều không có cơ chế để rà soát, đánh giá và rút kinh nghiệm việc triển khai Hiệp định làm hạn chế hiệu quả thực thi Hiệp định.

Về mặt chủ quan, có thể thấy rằng, mặc dù đã có chủ trương tiến hành nhưng công tác tự rà soát, đánh giá thực thi các Hiệp định TTTP đã ký với các nước (đặc biệt là các nước XHCN trước đây) để từ đó rút ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hiện nhưng các Bộ, ngành chưa thực sự triển khai quyết liệt.

d) Về công tác thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp

Dù kết quả thực hiện UTTP đã có những bước tiến so với những năm trước nhưng những hạn chế, bất cập vốn có vẫn chưa được giải quyết, trong đó phải kể đến là:

(i) Thời gian thực hiện UTTP còn khá dài (nhiều trường hợp kéo dài hàng năm) không đáp ứng yêu cầu về thời gian xét xử trong nước, làm ảnh hướng đến quá trình tố tụng;

(ii) Số lượng hồ sơ UTTP chưa có trả lời vẫn còn cao, đặc biệt trong lĩnh vực dân sự (Số lượng UTTP về dân sự không có kết quả trả lời trung bình chiếm trên 50%);

(iii) Trong lĩnh vực dân sự, nhiều trường hợp UTTP cho công dân Việt Nam ở nước ngoài dù có kết quả trả lời nhưng nội dung vẫn không đáp ứng được yêu cầu của cơ quan tố tụng trong nước.

Kết quả thực hiện các yêu cầu UTTP chưa cao đã làm ảnh hướng đến hoạt động tố tụng, đến việc giải quyết các vụ việc dân sự - thương mại, vụ án hình sự. Việc chậm có kết quả thực hiện yêu cầu UTTP về dân sự, có kết quả nhưng nội dung không đúng yêu cầu hoặc không có kết quả đã dẫn đến tình trạng là các Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự dù đã hoàn thành thủ tục theo quy định đối với các đương sự ở trong nước như lấy lời khai, thu thập tài liệu, chứng cứ... nhưng vẫn không thể tiếp tục giải quyết vụ án vì chưa đủ các điều kiện để ra quyết định. Thông tư liên tịch số 15/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định về TTTP trong lĩnh vực dân sự của Luật TTTP cũng đã mở ra hướng giải quyết cho các vụ việc không nhận được kết quả ủy thác tư pháp . Tuy nhiên, pháp luật tố tụng trong nước lại để trống quy định về việc xử lý các vụ việc không có kết quả UTTP nên dẫn đến hậu quả là nhiều vụ việc không có hướng xử lý.

Mặc dù TANDTC chưa có thống kê chính thức về số lượng vụ việc bị “treo” vì lý do không có kết quả UTTP nhưng chỉ nhìn tỷ lệ yêu cầu UTTP không có kết quả trong năm qua, cộng với một số đáng kể UTTP dù có kết quả nhưng nội dung không đáp ứng yêu cầu tố tụng thì có thể thấy đây là vấn đề thực tiễn cần được quan tâm giải quyết.

Có thể thấy những nguyên nhân chính của thực trạng này như sau:

Hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành chỉ viện dẫn chung chung áp dụng các quy định của pháp luật về TTTP nhưng pháp luật TTTP lại còn một số khoảng trống so với yêu cầu thực tế nên dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý để áp dụng giải quyết các vụ việc cụ thể. Nhiều điều ước quốc tế (về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với các nước) có một số quy định mà hệ thống pháp luật Việt Nam chưa hoàn toàn đáp ứng hoặc chưa có quy định, trong đó có nhiều nội dung phức tạp, nhạy cảm, dẫn đến khó khăn trong việc triển khai tổ chức thực hiện .

Số lượng các Hiệp định TTTP còn ít và độ phủ của các điều ước quốc tế của Việt Nam đã ký cũng hẹp (những nước Việt Nam có nhiều yêu cầu UTTP về dân sự thì lại chưa có Hiệp định, những nước Việt Nam đã có hiệp định thì số lượng yêu cầu UTTP lại ít) nên không có đủ cơ sở pháp lý yêu cầu phía nước ngoài thực hiện TTTP cho Việt Nam, trong khi đó nguyên tắc có đi có lại không phát huy tác dụng vì nhiều nước không yêu cầu Việt Nam thực hiện UTTP cho họ . Điều này cho thấy sự cần thiết phải mở rộng phạm vi đàm phán các điều ước quốc tế về TTTP để tạo cơ sở pháp lý thực hiện các yêu cầu UTTP của Việt Nam.

Về mặt khách quan, sự khác nhau trong quy định pháp luật của các nước về TTTP cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho việc thực hiện các yêu cầu UTTP trong cả 4 lĩnh vực . Điều này cho thấy sự cần thiết phải có Hiệp định TTTP, là cơ sở pháp lý cho việc phối hợp, hỗ trợ tiến hành các hoạt động tố tụng giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và các nước.

Về mặt chủ quan, cho đến nay mặc dù, đã có quy định cụ thể về tiêu trí và thủ tục xem xét áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong hoạt động UTTP nhưng Bộ Ngoại giao và các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam lại chưa rà soát đánh giá tổng thể để áp dụng chặt chẽ nguyên tắc này với những nước có nhiều UTTP qua lại với Việt Nam. Do đó, tạo ra sự không bình đẳng trong quan hệ hợp tác về TTTP giữa Việt Nam với nước ngoài, chưa tạo được sức ép yêu cầu phía nước ngoài thực hiện các yêu cầu UTTP cho Việt Nam .

Việc không có cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin, tham vấn giữa cơ quan trung ương của Việt Nam về TTTP với cơ quan trung ương của đối tác để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện UTTP cũng làm hạn chế hiệu quả thực hiện các yêu cầu TTTP.

Bên cạnh đó, số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật bố trí cho công tác TTTP vẫn chưa có sự phát triển tương xứng với yêu cầu phát triển của hoạt động này.

Riêng trong lĩnh vực UTTP về dân sự, do những đặc thù nên bên cạnh những nguyên nhân chung nêu trên còn có một số nguyên nhân khác khiến cho kết quả thực hiện UTTP còn hạn chế, đó là: (i) Một số nước thực hiện yêu cầu UTTP trên cơ sở thu phí UTTP (như Hoa kỳ) nhưng phía Việt Nam chưa nắm được quy trình, thủ tục thu, nộp phí để chi trả. Bên cạnh đó, trong nước vẫn chưa có văn bản QPPL quy định chi tiết về phí, chi phí thực hiện UTTP về dân sự dù Luật TTTP và Nghị định 92 đã có nêu, nên đến nay vẫn chưa có cơ chế thực hiện; (ii) Do không có đủ nguồn lực về con người cũng như tài chính để trực tiếp tống đạt hay thuê dịch vụ tại nước sở tại thực hiện nên một tỷ lệ lớn yêu cầu tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài chỉ được thực hiện dưới hình thức niêm yết tại Cơ đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, kết quả trả lời đối với loại UTTP này không đáp ứng yêu cầu trong nước về nội dung. Trong bối cảnh số lượng yêu cầu tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn và ngày càng gia tăng thì việc thực hiện các UTTP loại này cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa và cần có giải pháp để xử lý những vướng mắc trên.

Bên cạnh những hạn chế bất cập như trên, qua thực tiễn công tác TTTP, các cơ quan quản lý nhà nước cũng nhận ra những vấn đề phát sinh từ quá trình hội nhập quốc tế của đất nước để từ đó có các điều chỉnh thích hợp về chủ trương, chính sách. Chẳng hạn với số liệu thống kê có đến trên 55% các yêu cầu UTTP trong lĩnh vực dân sự hiện nay là liên quan tới hôn nhân gia đình cho thấy tiếp sau xu hướng tăng mạnh của quan hệ hôn nhân quốc tế giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài thì đến nay đã ngày càng xuất hiện nhiều hệ lụy pháp lý (như ly hôn, tranh chấp về tài sản, con cái) đòi hỏi các cơ quan nhà nước cần đánh giá và có những biện pháp xử lý.

Một vấn đề khác cũng cần nói đến đó là hoạt động công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài. Trong thời gian qua, số lượng yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài ngày gia tăng (riêng trong năm qua có 35 yêu cầu). Tuy nhiên, một thực tế là số lượng yêu cầu không được tòa án Việt Nam công nhận khá lớn, trong đó chủ yếu là quyết định của trọng tài nước ngoài . Thực trạng này đã tạo ra nhiều ý kiến, phản ứng khác nhau của doanh nghiệp cũng như các tổ chức hiệp hội trong nước và nước ngoài. Nhiều đối tác nước ngoài đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc và lo lắng về khả năng Toà án Việt Nam không công nhận các quyết định của trọng tài không phù hợp với Công ước Niu-ước 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của các bên cũng như gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư khi không nhận được sự bảo hộ chính đáng của pháp luật Việt Nam . Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, nếu vấn đề này không được xem xét để giải quyết thấu đáo, kịp thời thì sẽ ảnh hưởng bất lợi đến môi trường đầu tư cũng như quá trình hội nhập của Việt Nam.

PHẦN II

NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NĂM 2014 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế đã tiếp tục khẳng định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Có thể thấy, mở cửa và tăng cường hội nhập khu vực và toàn cầu của Việt Nam, bên cạnh những mặt tích cực, cũng đem lại những vấn đề không mong muốn đó là ngày càng nhiều các vụ việc tranh chấp về dân sự, thương mại, các vụ án hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải có tương trợ về pháp luật và tư pháp giữa các cơ quan nhà nước Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của các nước liên quan để giải quyết, nhu cầu TTTP cũng ngày càng gia tăng. Thực tiễn hoạt động TTTP đã cho thấy số lượng yêu cầu UTTP của Việt Nam gửi đi nước ngoài và số lượng yêu cầu UTTP nước ngoài gửi đến Việt Nam trong thời gian gần đây đều tăng hàng năm. Trong bối cảnh đó, hoạt động TTTP ngày càng có vai trò quan trọng và cần được quan tâm của các cấp, các ngành.

Trên cơ sở tình hình và kết quả hoạt động TTTP trong năm qua và trước yêu cầu đặt ra đối với công tác này, Chính phủ, các Bộ, ngành xác định định hướng chung của công tác TTTP năm 2014 là tập trung nâng cao hiệu quả thi hành Luật TTTP với trọng tâm là tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy, thực hiện các yêu cầu UTTP đạt kết quả cao hơn; tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế về TTTP mà Việt Nam là thành viên; từng bước mở rộng phạm vi và số lượng các nước có quan hệ điều ước quốc tế về TTTP với Việt Nam ở cả tầm song phương và đa phương, thông qua đó góp phần giúp các cơ quan tố tụng giải quyết đúng và nhanh chóng các vụ việc, yêu cầu của công dân, doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức, đáp ứng nhu cầu phát triển nội tại của đất nước, vừa đáp ứng các yêu cầu phát triển của cộng đồng quốc tế.

Để thực hiện định hướng trên, Chính phủ và các Bộ, ngành xác định các nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu trong năm 2014 như sau:

I. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2014

1. Về công tác xây dựng hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp

Chính phủ chủ trì phối hợp với TANDTC, Viện KSNDTC và các cơ quan hữu quan tổ chức tổng kết thi hành 6 năm thi hành Luật TTTP.

Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các Bộ chủ động nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới có nội dung liên quan đến TTTP trong các văn bản QPPL đã được đưa vào Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đặc biệt là đối với các dự án Luật, pháp lệnh đã có trong chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2014.

2. Về công tác điều ước quốc tế

Triển khai kết quả rà soát các Hiệp định TTTP, tổ chức thực thi nghiêm túc và có hiệu quả các Hiệp định đang có hiệu lực; hoàn thành đàm phán, ký các hiệp định TTTP đã khởi động đàm phán và xúc tiến đàm phán các Hiệp định mới, chú trọng những nước mà Việt Nam có nhu cầu cao về UTTP.

Tổ chức thực hiện đồng bộ Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam. Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hoàn thành nghiên cứu, gia nhập Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại và Công ước của Hội nghị La hay về miễn hợp pháp hóa giấy tờ công nước ngoài.

3. Về thực hiện ủy thác tư pháp

Các Bộ, ngành tập trung tổ chức triển khai đồng bộ và có hiệu quả, nâng cao tỷ lệ số hồ sơ UTTP thực hiện có kết quả trong đó chú trọng các hoạt động rà soát; đánh giá và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc có đi có lại trong thực hiện UTTP đối với các nước chưa có quan hệ điều ước quốc tế; nghiên cứu đề xuất biện pháp xử lý nâng cao hiệu quả thực hiện yêu cầu UTTP về tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài; tiếp tục tổ chức kiểm tra việc thực hiện UTTP trong cả bốn lĩnh vực tại các cơ quan trực tiếp thực hiện trong và ngoài nước nhằm phát hiện kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật liên quan.

4. Về các hoạt động quản lý nhà nước

Trong năm 2014, các Bộ, ngành tiến hành nghiên cứu, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác TTTP, đặc biệt là cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thuộc Chính phủ với Viện KSNDTC và TANDTC; thực hiện nghiêm túc công tác báo cáo, kiểm điểm, đánh giá định kỳ để đưa công tác này đi vào chiều sâu, nội dung, thực chất; ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động UTTP.

Bộ Tư pháp triển khai toàn diện các nội dung hoạt động quản lý nhà nước nhằm tăng cường và phát huy tốt vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước chung về TTTP theo quy định hiện hành; thực hiện nghiêm và thường xuyên công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra để tổ chức thực hiện đồng bộ và có hiệu quả tất cả các mặt hoạt động TTTP trên cả nước.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Để từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập và tạo “bứt phá” trong năm 2014 và các năm tiếp theo, Chính phủ sẽ chỉ đạo các Bộ, và đề nghị TANDTC, Viện KSNDTC phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau:

1. Đảm bảo tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành các văn bản QPPL có nội dung về TTTP.

2. Tăng cường công tác ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, đặc biệt ưu tiên các công ước trong khuôn khổ Hội nghị La hay về tư pháp quốc tế và điều ước quốc tế với những nước mà Việt Nam có yêu cầu cao về TTTP.

3. Đề cao và đẩy mạnh hoạt động thi hành Luật TTTP và các điều ước quốc tế về TTTP; nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật TTTP.

4. Thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, đặc biệt là những nước chưa ký điều ước quốc tế về TTTP với Việt Nam, để tìm giải pháp xử lý những vướng mắc, bất cập, nâng cao hiệu quả thực hiện yêu cầu UTTP của Việt Nam.

5. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cơ quan, biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong công tác TTTP; cải thiện nâng cao chất lượng công tác thông tin, thống kê, chia sẻ thông tin, dữ liệu về thực hiện UTTP.

6. Kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác TTTP ở các Bộ, ngành và địa phương, tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động TTTP.

III. KIẾN NGHỊ

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, Chính phủ xin kiến nghị:

1. Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội tăng cường giám sát việc thi hành Luật TTTP.

2. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đẩy nhanh tiến độ xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật đã có trong Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh của Quốc hội có liên quan tới TTTP, đặc biệt là các văn bản luật về tố tụng để đảm bảo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật.

3. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có số lượng ủy thác tư pháp nhiều tăng cường giám sát việc giải quyết các vụ án liên quan.

Trên đây là Báo cáo về hoạt động tương trợ tư pháp năm 2013, Chính phủ xin kính trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến./.

Nơi nhận:

- Như trên;

- Thường trực Ban Bí thư;

- Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

- Các Phó Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

- Ban Nội chính Trung ương;

- Văn phòng Trung ương Đảng;

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;

- Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp (2b);

- VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT;

các Vụ: TH, QHQT, NC, V.III, TKBT;

- Lưu: VT, PL(3b).

 

TM. CHÍNH PHỦ

TUQ. THỦ TƯỚNG

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Đã ký

Hà Hùng Cường

Lượt xem: 104

Trang thông tin điện tử tương trợ tư pháp

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượt truy cập:

Địa chỉ: 262 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Cán bộ phụ trách: Lê Mạnh Hùng - Chức vụ: Phó Vụ trưởng
Điện thoại: +84.24.376.230.36; 0976437814
Email: phapluatquocte@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Trang TTĐT Tương trợ tư pháp - Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ tttp.toaan.gov.vn.

ácdscv