Skip to main content

CHÍNH PHỦ

-------------

Số: 413/BC-CP

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2014

BÁO CÁO

Hoạt động tương trợ tư pháp năm 2014

Kính gửi: Quốc hội

Thực hiện yêu cầu của Ủy ban Thường vụ quốc hội tại Công văn số 2065/VPQH-TH ngày 19/9/2014 của Văn phòng Quốc hội về việc chuẩn bị tài liệu phục vụ Kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XIII, căn cứ khoản 3, Điều 61 Luật Tương trợ tư pháp, trên cơ sở báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, ngành, địa phương, Chính phủ báo cáo Quốc hội về hoạt động tương trợ tư pháp năm 2014 (từ ngày 01/10/2013 đến 30/9/2014), cụ thể như sau:

Phần I

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Về công tác chỉ đạo và điều hành hoạt động tương trợ tư pháp

Trong năm 2014, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ Tư pháp, Công an, Ngoại giao, Tài chính và đề nghị Tòa án nhân dân tối cao (Tòa án NDTC), Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (Viện KSNDTC) phối hợp triển khai toàn diện hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) trên cả bốn lĩnh vực: dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù (chuyển giao NĐCHHPT).

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương trên cả nước thực hiện tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP; chỉ đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp nhanh chóng hoàn tất các quy trình, thủ tục trong nước để gia nhập hai công ước đa phương về TTTP là Công ước La Hay năm 1961 về miễn hợp pháp hóa giấy tờ công nước ngoài và Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại; chỉ đạo Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và đề nghị Viện KSNDTC, Tòa án NDTC tích cực đàm phán các điều ước quốc tế song phương mới về TTTP trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT, trong đó tập trung vào những nước mà Việt Nam có nhiều nhu cầu về TTTP. Bên cạnh chủ trương đẩy mạnh gia nhập, đàm phán các hiệp định đa phương và song phương nhằm tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc thực hiện hợp tác về TTTP giữa Việt Nam với nước ngoài, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu, đề nghị các cơ quan đầu mối về TTTP trong từng lĩnh vực tích cực triển khai các giải pháp toàn diện nhằm nâng cao kết quả thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự, hình sự, các yêu cầu về dẫn độ, chuyển giao NĐCHHPT (sau đây gọi chung là UTTP), đáp ứng yêu cầu tố tụng trong nước và hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp.

2. Công tác tổ chức thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp

Các cơ quan đầu mối ở trung ương, các Bộ, ngành tiếp tục triển khai và đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước theo quy định của Luật TTTP.

Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Ngoại giao thông qua các kênh khác nhau đề nghị các nước đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam về TTTP, như quan tâm thực hiện các yêu cầu UTTP của Việt Nam hoặc đàm phán, ký Hiệp định TTTP. Trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Bộ Tư pháp đã tổ chức các cuộc họp liên ngành Tư pháp, Ngoại giao, Tài chính và Tòa án để trao đổi về những vướng mắc trong quá trình giải quyết các hồ sơ UTTP nhằm tìm các giải pháp giải quyết, đặc biệt là việc thực hiện yêu cầu tống đạt cho công dân Việt Nam ở nước ngoài, đề xuất hướng xử lý thu nộp chi phí thực hiện UTTP về dân sự vốn là vấn đề bất cập hiện nay . Bộ Ngoại giao đang tiến hành xây dựng danh mục các nước có thu phí thực hiện UTTP và ngôn ngữ yêu cầu đối với các hồ sơ UTTP để tạo thuận lợi cho các cơ quan trong nước thực hiện. Bộ Tư pháp đã ứng dụng phần mềm tin học để giải quyết và quản lý các hồ sơ UTTP về dân sự, đưa số liệu thực hiện UTTP về dân sự vào nội dung thống kê chính thức của Ngành Tư pháp . Tòa án NDTC đã tiến hành tổng kết thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự có đương sự ở nước ngoài để xây dựng văn bản hướng dẫn các tòa án địa phương bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật về TTTP trong hoạt động xét xử, giải quyết vụ án dân sự.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHTP, Bộ Công an, Viện KSNDTC đã xây dựng và phát hành các sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ về thực hiện TTTP để hướng dẫn quy trình, thủ tục cho các cơ quan, địa phương thực hiện công tác này được thống nhất, đồng bộ.

Đồng thời, để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và tạo điều kiện cho người dân, các cơ quan, tổ chức có liên quan có thể cập nhật các thông tin về hoạt động TTTP (như công tác hoàn thiện thể chế, công tác điều ước quốc tế về TTTP, hoạt động của các Bộ, ngành về TTTP), các Bộ, ngành đã tích cực tổ chức nghiên cứu xây dựng và thực hiện các chuyên đề nghiệp vụ về công tác TTTP; đăng tải các bài viết về TTTP trên báo, tạp chí, cổng thông tin điện tử của Ngành .

Trong năm 2014, các cơ quan đầu mối về trong từng lĩnh vực TTTP cũng tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho các cơ quan thực hiện TTTP ở địa phương thực hiện UTTP theo đúng quy định của pháp luật .

3. Về kết quả tổng kết 6 năm thi hành Luật tương trợ tư pháp

Nhằm triển khai một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Chính phủ đã xác định tại Báo cáo hoạt động TTTP năm 2013 trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, với trách nhiệm là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động TTTP, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã đề nghị Tòa án NDTC, Viện KSNDTC, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và 63 Tòa án nhân dân, 63 Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh trên cả nước tiến hành tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP kể từ ngày 01/7/2008 đến hết ngày 30/6/2014 trên cả bốn lĩnh vực: dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT. Trên cơ sở kết quả tổng kết ở từng lĩnh vực, ngày 30/9/2014, các Bộ, ngành đã tổ chức Hội nghị tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP tại Hà Nội, đánh giá toàn diện các quy định của Luật TTTTP và thực tiễn thi hành, ghi nhận những kết quả đạt được và xác định những hạn chế, bất cập qua 6 năm thi hành Luật TTTP để từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động TTTP.

Trong đợt tổng kết này, Chính phủ, các Bộ, ngành đều thống nhất nhận định Luật TTTP đã thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về TTTP trong bối cảnh cải cách tư pháp, cải cách pháp luật và hội nhập quốc tế. Luật TTTP đã tạo cơ sở pháp lý cho các Bộ, ngành, địa phương triển khai toàn diện các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả công tác TTTP. Qua 6 năm thực hiện, Luật TTTP đã chứng tỏ được vai trò của mình, tạo cơ sở pháp lý để hoạt động TTTP ngày càng đi vào nền nếp, bài bản và chuyên nghiệp, kết quả thực hiện UTTP ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, qua tổng kết, các Bộ, ngành cũng đã chỉ ra những hạn chế, bất cập của thể chế, thực tiễn hoạt động TTTP cần được khắc phục như “khoảng trống” trong quy định của Luật TTTP so với yêu cầu thực tiễn và các điều ước quốc tế; sự thiếu gắn kết, chưa đồng bộ và khả thi của pháp luật tố tụng trong nước liên quan đến TTTP; độ bao phủ của các điều ước quốc tế của Việt Nam về TTTP còn hẹp, việc tham gia các cơ chế đa phương về TTTP trong lĩnh vực dân sự còn hạn chế; thời gian thực hiện UTTP trong cả bốn lĩnh vực còn dài, kết quả còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu về thời gian xét xử trong nước.

Qua tổng kết 6 năm thực hiện Luật TTTP, Chính phủ, các Bộ, ngành đã xác định các giải pháp toàn diện nhằm nâng hiệu quả hoạt động TTTP, trong đó đặc biệt chú trọng việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung tối đa những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến TTTP, có tính đến những yêu cầu đặc thù của các vụ việc có yếu tố nước ngoài, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hình sự trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cải cách pháp luật, tư pháp; tạo sự gắn kết tốt hơn giữa Luật TTTP và các luật chuyên ngành về tố tụng. Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số văn bản luật, pháp lệnh có liên quan được nêu chi tiết tại Phụ lục 1 kèm theo Báo cáo này.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ

Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có các văn bản liên quan tới công tác TTTP, như Luật TTTP, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, Luật thi hành án dân sự… để có những đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp. Chính phủ, Tòa án NDTC và Viện KSNDTC đã nỗ lực khẩn trương tổng kết thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế và bắt tay vào soạn thảo những sửa đổi, bổ sung cho các đạo luật này. Đồng thời, Chính phủ cũng trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc kiến nghị giải thích khoản 14 Điều 70 Hiến pháp 2013 liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhằm thống nhất về quy trình, thẩm quyền quyết định việc đàm phán, ký, phê chuẩn các điều ước quốc tế về TTTP.

Nhiệm vụ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TTTP đã được hoàn thành trong năm 2013. Do đó, trong năm 2014, các Bộ, ngành tập trung soạn thảo và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để triển khai hiệu quả Luật TTTP. Cụ thể, trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 18/2014/TT-BTC ngày 11/02/2014 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thực hiện UTTP về dân sự ; Tòa án NDTC đang soạn thảo dự thảo nghị quyết “Hướng dẫn áp dụng một một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan trong giải quyết vụ án dân sự mà có đương sự ở nước ngoài. Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT, Bộ Công an chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành đang xây dựng 03 văn bản hướng dẫn một số quy định về dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT .

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành, theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao cũng tiến hành rà soát các quy định về TTTP trong Bộ luật tố tụng dân sự, các hiệp định TTTP về dân sự mà Việt Nam đã ký kết để phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự.

III. KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Đàm phán, ký các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương

Trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ để trình Chủ tịch nước về chủ trương đàm phán Hiệp định TTTP về dân sự với Ấn Độ . Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng đang tiến hành trao đổi với phía Hàn Quốc và Hungari để đàm phán, ký Hiệp định TTTP về dân sự và thương mại với 02 nước này.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, Viện KSNDTC đã chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ và các Bộ Công an, Tư pháp, Ngoại giao và Tòa án NDTC hoàn thành đàm phán và ký Hiệp định TTTP về hình sự với Ô-xtơ-rây-li-a ; hoàn thiện thủ tục ủy quyền đàm phán, ký Hiệp định TTTP về hình sự với Tây Ban Nha (đàm phán vào tháng 10/2014 tại Tây Ban Nha); xây dựng hồ sơ đàm phán Hiệp định TTTP về hình sự với Vương quốc Cam-pu-chia và Cộng hòa Pháp để trình Chính phủ xin phép ủy quyền đàm phán.

Trong lĩnh vực TTTP về dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT, Bộ Công an đã chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan hoàn thành các thủ tục phê chuẩn 02 Hiệp định ; hoàn thành đàm phán 06 Hiệp định ; hoàn tất thủ tục đàm phán và đang chờ phía nước ngoài cho ý kiến về việc ký 02 Hiệp định .

Trong năm qua, hoạt động đàm phán, ký và gia nhập điều ước quốc tế về TTTP trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT đều đảm bảo đúng quy định của Hiến pháp, Luật TTTP và Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 (Luật ĐƯQT).

2. Hợp tác quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp

Trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, các Bộ, ngành đã tích cực đẩy mạnh nghiên cứu khả năng gia nhập các Công ước đa phương về TTTP; tham gia vào các hoạt động chuyên môn như hội thảo, hội nghị quốc tế, nghiên cứu về tư pháp quốc tế của Hội nghị, cụ thể:

- Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Tòa án NDTC và các Bộ, ngành hoàn thành Đề án nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước Tống đạt) trình Thủ tướng Chính phủ . Công ước Tống đạt là điều ước đa phương quan trọng nhất trong lĩnh vực tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự, hiện có 68 thành viên tham gia, trong đó có những nước mà Việt Nam có nhu cầu cao trong hợp tác TTTP về dân sự như: Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Đức, Ốt-xtờ-rây-li-a. Công ước quy định một quy trình thủ tục tống đạt giấy tờ nhanh và đơn giản so với các kênh tống đạt truyền thống, góp phần làm giảm chi phí tố tụng, đảm bảo hoạt động tống đạt có kết quả và đáp ứng thời gian tố tụng. Trên cơ sở kết quả của Đề án, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp xây dựng hồ sơ gia nhập theo quy định của Luật ĐƯQT . Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành hoàn thiện hồ sơ theo quy định của Luật ĐƯQT để trình Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước quyết định việc gia nhập Công ước này trong Quý IV năm 2014.

- Chuẩn bị gia nhập Công ước La Hay năm 1961 về miễn hợp pháp hóa giấy tờ, tài liệu công nước ngoài . Để chuẩn bị các điều kiện trong nước đảm bảo thực thi Công ước khi Việt Nam chính thức gia nhập, Bộ Ngoại giao đã hoàn thiện cơ sở dữ liệu của Việt Nam về hợp pháp hóa và chứng nhận lãnh sự; tổ chức các hội thảo để tuyên truyền, phổ biến về công ước; vận động các nước ủng hộ việc gia nhập Công ước của Việt Nam. Hiện nay, Bộ Ngoại giao đang phối hợp với các Bộ, ngành hoàn thiện hồ sơ gia nhập Công ước theo quy định của Luật ĐƯQT để trình các cấp có thẩm quyền quyết định.

Đồng thời, một số công ước khác của Hội nghị La Hay trong lĩnh vực hợp tác pháp luật và tư pháp liên quan trực tiếp đến TTTP như: Công ước thu thập chứng cứ, Công ước tiếp cận công lý, Công ước về lựa chọn toà án, Công ước về công nhận và thi hành bản án của toà án nước ngoài cũng được các Bộ, ngành đưa vào kế hoạch nghiên cứu khả năng gia nhập đối với Việt Nam.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHTP, Bộ Công an đã chủ trì đề xuất ký 01 điều ước quốc tế về quyền con người (Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người ) và gia nhập 02 điều ước quốc tế đa phương về phòng, chống khủng bố (Công ước quốc tế về chống bắt con tin năm 1979 và Công ước quốc tế về chống khủng bố bằng bom năm 1997) có quy định về TTTP hình sự và dẫn độ.

Trong khuôn khổ ASEAN, các Bộ, ngành tiếp tục tham gia tích cực vào việc triển khai các sáng kiến trong ASEAN đối với lĩnh vực TTTP như tham gia nhóm công tác xây dựng Hiệp định mẫu ASEAN về dẫn độ; tiếp tục đôn đốc các nước góp ý đối với dự thảo Hiệp định ASEAN về miễn hợp pháp hóa giấy tờ do Việt Nam đề xuất xây dựng; tham gia Hội nghị quan chức pháp luật cao cấp ASEAN (ASLOM) lần thứ 15 tại CHDCND Lào; Hội nghị các cơ quan trung ương của Hiệp định TTTP về hình sự giữa các nước ASEAN lần thứ 5; Hội nghị quan chức cao cấp lần thứ 7 về Hiệp định TTTP về hình sự giữa các nước ASEAN...

3. Thực hiện các điều ước quốc tế về TTTP

a) Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện

Trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Tòa án NDTC và các tòa án nhân dân cấp tỉnh tiến hành tổng rà soát Hiệp định TTTP với Cộng hòa Pháp và CHND Trung Hoa. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tổng hợp các ý kiến của các tòa án để xây dựng Báo cáo tổng rà soát và đánh giá thực trạng thực hiện hai Hiệp định này để trình Chính phủ.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT, định kỳ 06 tháng, lãnh đạo Viện KSNDTC, Bộ Công an yêu cầu các đơn vị trực thuộc, cơ quan địa phương báo cáo về tình hình thực hiện công tác TTTP về hình sự, dẫn độ, chuyển giao NĐCHHPT, trong đó có tình hình thực hiện các điều ước quốc tế về TTTP về hình sự, dẫn độ, chuyển giao NĐCHHPT. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo, cơ quan đầu mối đã tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu biện pháp giải quyết khó khăn, vướng mắc nhằm thuận lợi hơn cho việc thực hiện các UTTP.

b) Tổ chức thực hiện các Hiệp định/Thỏa thuận tương trợ tư pháp

Trong lĩnh vực TTTP về dân sự, với vai trò là Cơ quan đầu mối về dân sự, Bộ Tư pháp đã chủ động trao đổi và liên hệ với các Cơ quan đầu mối của các nước đối tác để tham vấn về việc thực hiện các yêu cầu TTTP của hai Bên, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Hiệp định cũng như quan hệ hợp tác giữa các cơ quan đầu mối. Cụ thể như trong việc thực hiện Thoả thuận giữa Văn phòng Kinh tế và văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc và Văn phòng Kinh tế và văn hóa Đài Bắc tại Việt Nam về TTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại, hai Bên đã tổ chức 02 Phiên họp giữa hai Cơ quan trung ương , định kỳ hàng tháng rà soát tiến độ thực hiện các yêu cầu UTTP để kịp thời xử lý vướng mắc, qua đó nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai Bên .

Với vai trò là cơ quan trung ương về dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT, Bộ Công an thường xuyên trao đổi với cơ quan trung ương của các quốc gia về tình hình giải quyết các yêu cầu dẫn độ, chuyển giao NĐCHHPT của Việt Nam cũng như cung cấp thông tin về tình hình thực hiện các yêu cầu của nước ngoài cũng như chính sách, pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này. Viện KSNDTC đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài triển khai thực hiện các Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự song phương và đa phương đã ký kết với các nước.

Kết quả thực hiện các yêu cầu UTTP trong cả bốn lĩnh vực trên cơ sở các Hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký kết được trình bày chi tiết tại Mục IV - Thực hiện UTTP dưới đây.

c) Đăng tải và công bố các Hiệp định/Thỏa thuận đã có hiệu lực

Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Viện KSNDTC thực hiện đăng tải các Hiệp định TTTP đang có hiệu lực trên chuyên trang cơ sở dữ liệu về điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và Cổng thông tin điện tử về công tác lãnh sự của Bộ Ngoại giao . Danh sách cập nhật các điều ước quốc tế về TTTP mà Việt Nam đã ký, đang đàm phán được trình bày chi tiết tại Phụ lục 2 kèm theo Báo cáo này.

IV. THỰC HIỆN ỦY THÁC TƯ PHÁP

1. Tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, trong thời gian từ ngày 01/10/2013 đến ngày 30/9/2014, tình hình thực hiện UTTP về dân sự như sau:

a) Ủy thác tư pháp theo yêu cầu của Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

- Tổng số yêu cầu UTTP gửi đi qua đầu mối Bộ Tư pháp: 3360 yêu cầu. Trong số đó, có 2.853 yêu cầu (chiếm 85% tổng số yêu cầu UTTP) gửi những nước chưa có điều ước quốc tế về TTTP với Việt Nam, tập trung nhiều nhất đến các nước Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Ốt-xtờ-rây-li-a và Hàn Quốc.

image

- Tổng số yêu cầu UTTP có trả lời: 1.793 yêu cầu.

Trong số đó, yêu cầu UTTP có trả lời từ những nước có Hiệp định TTTP là 421/507 yêu cầu, đạt 83%; trả lời từ những nước chưa có Hiệp định TTTP với Việt Nam là 1.372/3.360 yêu cầu, đạt 48%.

image

So sánh kết quả thực hiện yêu cầu UTTP về dân sự năm 2014 với năm 2013 cho thấy tỷ lệ có trả lời đã tăng 14% đối với các yêu cầu UTTP được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế và 4% đối với các yêu cầu UTTP đối với những nước chưa có điều ước quốc tế về TTTP với Việt Nam.

image

Một điểm mới là trong năm 2014, Bộ Tư pháp đã nhận được kết quả thực hiện của một số nước trước đây chưa từng thực hiện yêu cầu UTTP cho ta là Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai len, Vương quốc Bỉ và Cộng hòa Áo.

Tuy nhiên, kết quả thực hiện UTTP gửi đi những nước chưa có điều ước quốc tế mặc dù có cao hơn so với năm 2013 nhưng vẫn chỉ đạt 48%, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác tố tụng trong nước. Điều này cho thấy sự cần thiết phải đẩy mạnh việc đàm phán, ký điều ước quốc tế về TTTP để nâng cao hiệu quả thực hiện các hồ sơ UTTP nói riêng và tăng cường quan hệ hợp tác về TTTP giữa Việt Nam và nước ngoài nói chung.

b) Ủy thác tư pháp theo yêu cầu của Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Trong giai đoạn từ ngày 01/10/2013 đến ngày 30/9/2014, Bộ Tư pháp đã nhận được 825 yêu cầu UTTP về dân sự của của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài và chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền trong nước thực hiện. Kết quả đã thực hiện được 414/825 yêu cầu đạt trên 50%.

Cũng tương tự như UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài liên quan chủ yếu đến tống đạt giấy tờ, tài liệu, thu thập chứng cứ, lấy lời khai đương sự trong các vụ việc về hôn nhân và gia đình, xác minh quan hệ cha/mẹ-con, yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn, yêu cầu về quyền nuôi con sau khi ly hôn, các vụ việc thương mại, lao động. Số lượng các nước và vùng lãnh thổ gửi nhiều yêu cầu UTTP đến Việt Nam là lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc, CHLB Đức và Cộng hòa Séc.

2. Về thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự

Theo thông báo của Viện KSNDTC, tình hình thực hiện UTTP về hình sự trong giai đoạn từ ngày 01/10/2013 đến ngày 30/9/2014 như sau:

a) Thực hiện yêu cầu UTTP của nước ngoài gửi đến Việt Nam

Viện KSNDTC đã tiếp nhận và xử lý 262 yêu cầu do nước ngoài chuyển đến, trong đó 60% yêu cầu liên quan đến các nước đã ký Hiệp định với Việt Nam.

Nội dung yêu cầu UTTP về hình sự chủ yếu liên quan đến việc thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt tài liệu, giấy tờ, chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự. Các yêu cầu UTTP về hình sự ngày càng đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực và tội phạm nghiêm trọng như giết người, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, tham nhũng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, rửa tiền.

Viện KSNDTC đã quan tâm rà soát, theo dõi tiến độ giải quyết yêu cầu UTTP về hình sự, đôn đốc, nhắc nhở tiến độ thực hiện đối với các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền trong nước. Do vậy, việc thực hiện các yêu cầu UTTP về hình sự đảm bảo đúng thời hạn, thủ tục do nước ngoài yêu cầu.

b) Tình hình giải quyết yêu cầu UTTP về hình sự do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam gửi đi nước ngoài

Viện KSNDTC đã thụ lý, giải quyết 141 yêu cầu UTTP về hình sự từ các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam để đề nghị phía nước ngoài hỗ trợ thực hiện, trong đó 70% yêu cầu liên quan đến các nước đã ký Hiệp định với Việt Nam. Nội dung yêu cầu chủ yếu liên quan đến việc thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt tài liệu, giấy tờ. Số lượng các yêu cầu đã nhận được trả lời từ phía nước ngoài cũng ngày càng được cải thiện.

Qua theo dõi nhận thấy, số lượng các yêu cầu UTTP về hình sự của Việt Nam gửi đi các nước có chiều hướng ngày càng tăng lên. Các yêu cầu UTTP về hình sự ngày càng đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực và tội phạm nghiêm trọng như lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và các tội phạm xâm phạm sở hữu khác, các tội phạm ma túy, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người như giết người, hiếp dâm.

3. Về thực hiện yêu cầu về dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT

a) Về dẫn độ

Bộ Công an đã lập và chuyển 05 hồ sơ yêu cầu dẫn độ đối tượng từ nước ngoài về Việt Nam (trong đó 02 yêu cầu dẫn độ lập lại theo đề nghị của phía Ô-xtrây-li-a do Hiệp định về dẫn độ giữa hai nước có hiệu lực sau khi nhận được yêu cầu dẫn độ); đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xem xét, giải quyết 01 yêu cầu dẫn độ của phía nước ngoài. Ngoài ra, Bộ Công an cũng tổ chức chuyển giao 03 đối tượng từ Việt Nam ra nước ngoài qua kênh Interpol.

Bảng thống kê yêu cầu dẫn độ từ 01/10/2013-30/9/2014

Yêu cầu dẫn độ gửi đi

Yêu cầu dẫn độ tiếp nhận

Nước tiếp nhận

Số lượng

Căn cứ gửi

Nước yêu cầu

Số lượng

Căn cứ gửi

Ô-xtrây-li-a

02

Hiệp định

Séc

01

Hiệp định

Bun-ga-ri

01

Hiệp định

   

Anh

01

Có đi có lại

   

Thái Lan

01

Có đi có lại

   

b) Về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Bộ Công an đang làm thủ tục tiếp nhận 03 phạm nhân người Việt Nam đang chấp hành hình phạt tù tại Hàn Quốc, Séc và Anh về Việt Nam tiếp tục chấp hành án; chuyển giao 02 phạm nhân là công dân Hàn Quốc và Anh đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam về nước tiếp tục chấp hành án (trong đó, 01 trường hợp đã có quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc chuyển giao).

Bảng thống kê yêu cầu chuyển giao NĐCHHP

Từ ngày 01/10/2013 đến ngày 30/9/2014

Yêu cầu chuyển giao về Việt Nam

Yêu cầu chuyển giao ra nước ngoài

Nước yêu cầu

Số lượng

Căn cứ gửi

Nước tiếp nhận

Số lượng

Căn cứ gửi

Hàn Quốc

01

Hiệp định

Hàn Quốc

01

Hiệp định

Anh

01

Hiệp định

Anh

01

Hiệp định

Séc

01

Có đi có lại

   

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ

1. Về kết quả đạt được

Trong năm 2014, Chính phủ, Tòa án NDTC, Viện KSNDTC, các Bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương đã tích cực triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp được đề xuất với Quốc hội trong Báo cáo hoạt động TTTP năm 2013.

Về công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện hoạt động TTTP, Chính phủ thông qua Bộ Tư pháp đã chủ trì phối hợp với Tòa án NDTC, Viện KSNDTC và các cơ quan hữu quan hoàn thành việc tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP. Qua tổng kết, Chính phủ, các Bộ, ngành không chỉ đánh giá được toàn diện tình hình thực thi Luật TTTP mà còn đánh giá được tổng thể thực trạng hệ thống pháp luật và thực tiễn tố tụng trong nước có liên quan đến yếu tố nước ngoài trong điều kiện hội nhập quốc tế mạnh mẽ của Việt Nam. Trong bối cảnh một loạt Bộ luật/luật về tố tụng, đặc biệt là Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự đang được sửa đổi, bổ sung thì kết quả tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP là cơ sở thực tiễn hữu ích để các cơ quan có liên quan hoàn thiện pháp luật tố tụng, đặc biệt là quy định tố tụng liên quan đến yếu tố nước ngoài.

Công tác báo cáo, rà soát, đánh giá định kỳ được các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc, ngày càng đi vào thực chất, có chiều sâu. Công nghệ thông tin đã được đưa vào ứng dụng trong hoạt động UTTP, giúp việc thực hiện và quản lý số liệu, hồ sơ UTTP được bài bản, chính xác và chặt chẽ hơn. Các cơ quan đầu mối về TTTP trong cả bốn lĩnh vực đều tăng cường hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị, địa phương thực hiện UTTP được thống nhất, đúng quy trình, rút gắn thời gian và đạt hiệu quả cao hơn.

Về công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về TTTP: Để triển khai thi hành Hiến pháp 2013, cùng với chỉ đạo, yêu cầu và đôn đốc sát sao của Chính phủ, các Bộ, ngành đều tiến hành rà soát tổng thể quy định pháp luật hiện hành theo yêu cầu của Hiến pháp để đề xuất việc sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới có nội dung liên quan đến TTTP trong Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án dân sự nhằm đảm bảo sự đồng bộ, khả thi của hệ thống pháp luật tố tụng, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động TTTP, góp phần đảm bảo thực hiện tốt quyền tư pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan, tăng cường hiệu quả hoạt động xét xử của các cơ quan tư pháp.

Về công tác điều ước quốc tế, với chủ trương và chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về đẩy mạnh gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về TTTP, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao đã triển khai toàn diện, đúng kế hoạch các hoạt động chuẩn bị cho việc gia nhập Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại và Công ước La Hay về miễn hợp pháp hóa giấy tờ công nước ngoài ; trực tiếp thực hiện chủ trương đường lối của Đảng về đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực. Cụ thể như gia nhập Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại sẽ mở ra một lĩnh vực hợp tác mới ở tầm toàn cầu đối với Việt Nam; trực tiếp giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong hoạt động UTTP của Việt Nam hiện nay khi có đến 80% yêu cầu UTTP của Việt Nam là tống đạt giấy tờ, tài liệu tư pháp.

Bên cạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu, gia nhập các công ước đa phương về TTTP, trên cơ sở Kế hoạch triển khai thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành , các Bộ, ngành đã tích cực tham gia vào các hoạt động của Hội nghị như tham gia và thuyết trình tại các diễn đàn quốc tế; tích cực góp ý xây dựng và hoàn thiện các đề xuất về soạn thảo các văn bản pháp lý quốc tế đa phương trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Qua các hoạt động này, quan điểm, tiếng nói của Việt Nam được đến với trường quốc tế, góp phần xây dựng và nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trong hoạt động hợp tác về tư pháp quốc tế ở cấp độ toàn cầu. Hội nghị La Hay và các nước thành viên của Hội nghị đều đánh giá cao sự tích cực của Việt Nam và coi Việt Nam như một nhân tố trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Hội nghị La Hay.

Ở góc độ hợp tác song phương, các Bộ, ngành đều đẩy mạnh hoạt động đàm phán, ký các điều ước quốc tế về TTTP trong lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT; rà soát các Hiệp định TTTP đang có hiệu lực và tổ chức thực hiện nghiêm túc và nâng kết quả thực hiện các yêu cầu UTTP theo các Hiệp định cao hơn năm trước.

Về thực hiện các yêu cầu TTTP, các Bộ, ngành tập trung tổ chức triển khai đồng bộ và có hiệu quả, nâng cao tỷ lệ số hồ sơ UTTP, trong đó chú trọng nghiên cứu, đề xuất biện pháp xử lý nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện yêu cầu UTTP về tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài. Điều này đã giúp các cơ quan tố tụng, tư pháp trong nước và nước ngoài xử lý các vụ việc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan, mang lại những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế, bảo vệ trật tự an ninh và ổn định xã hội, thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước.

2. Về tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

a) Về tồn tại, hạn chế

Mặc dù Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng nhưng hoạt động TTTP trong năm 2014 vẫn còn những tồn tại, hạn chế chưa được xử lý triệt để, cụ thể như sau:

Về công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước trong hoạt động TTTP: Một số tồn tại, hạn chế trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước trong hoạt động TTTP đã được nêu tại Báo cáo hoạt động TTTP năm 2013 vẫn chưa được giải quyết triệt để như: vai trò của cơ quan quản lý nhà nước chung về TTTP đối với cả bốn lĩnh vực theo quy định của Luật TTTP khó phát huy hiệu quả; Tòa án NDTC chưa có đơn vị đầu mối chính thức về hoạt động TTTP nên việc phối hợp giữa Tòa án NDTC và các cơ quan có liên quan trong hoạt động TTTP nhiều lúc còn chậm trễ, thiếu chặt chẽ, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của hoạt động TTTP; công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện UTTP ở cả bốn lĩnh vực tại các cơ quan trực tiếp thực hiện TTTP trong và ngoài nước chưa được thực hiện.

Về công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế: Mặc dù các Bộ, ngành đã hoàn thành việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TTTP theo quy định của Luật, nhưng qua thực tiễn áp dụng cho thấy bản thân các quy định hiện hành của các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TTTP xuất hiện những khoảng trống, bất cập và chưa đồng bộ với pháp luật tố tụng; chưa có quy định về cơ chế thu nộp chi phí thực hiện UTTP về dân sự làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện UTTP với những nước chưa ký Hiệp định TTTP với Việt Nam.

Về công tác ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về TTTP: Trong lĩnh vực dân sự, mặc dù Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao đã nỗ lực đẩy mạnh việc đề xuất đàm phán mới hoặc khởi động đàm phán lại các Hiệp định TTTP về dân sự nhưng không có được sự phản hồi tích cực từ phía nước ngoài ;.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, thời điểm có hiệu lực của một số điều ước quốc tế không được thông báo kịp thời đến cơ quan có liên quan để biết, thực hiện. Ngoài ra, hoạt động rà soát, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện các hiệp định TTTP mới chỉ được thực hiện bước đầu với số lượng ít, các cơ quan đầu mối của phía Việt Nam cũng chưa thiết lập và duy trì được mối liên hệ thường xuyên với phía đối tác để hỗ trợ cho quá thực thi Hiệp định.

Bên cạnh đó, kể từ khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực (từ ngày 01/01/2014) đã phát sinh một vấn đề có tác động đến hoạt động đàm phán, ký, phê chuẩn điều ước quốc tế về TTTP. Khoản 14 Điều 70 Hiến pháp 2013 quy định Quốc hội có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tuy nhiên, việc hiểu khái niệm “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” còn chưa thống nhất, dẫn tới vướng mắc trong việc xác định cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn quyết định gia nhập và chấm dứt hiệu lực của một số loại điều ước, trong đó có các điều ước quốc tế về TTTP. Điều này đã làm chậm tiến độ công tác phê chuẩn điều ước quốc tế về TTTP.

Về công tác thực hiện các yêu cầu TTTP: Qua theo dõi kết quả thực hiện UTTP trong năm 2014 cho thấy, những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện các yêu cầu UTTP (trong đó nhiều tồn tại và bất cập đã được nêu trong Báo cáo hoạt động TTTP năm 2013 và tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP) chưa được giải quyết triệt để, cụ thể là: (i) Thời gian thực hiện UTTP vẫn còn khá dài; phần lớn Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lúng túng khi tiếp nhận và xử lý các yêu cầu dẫn độ, yêu cầu chuyển giao NĐCHHPT, dẫn đến chậm trễ về mặt thời hạn (thậm chí không bảo đảm thời hạn tố tụng); (ii) Số lượng hồ sơ UTTP chưa trả lời vẫn còn cao; (iii) Việc thực hiện tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài do Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài gửi về chủ yếu được thực hiện dưới hình thức niêm yết tại trụ sở Cơ quan đại diện, đa phần không đáp ứng được yêu cầu giải quyết các vụ việc trong nước.

Kết quả thực hiện các yêu cầu UTTP chưa cao đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tố tụng, đến việc giải quyết các vụ việc dân sự - thương mại, vụ án hình sự. Việc chậm có kết quả thực hiện UTTP, hoặc có kết quả nhưng nội dung không đúng yêu cầu dẫn đến tình trạng các Tòa án và cơ quan tư pháp dù đã hoàn thành thủ tục theo quy định đối với các đương sự ở trong nước (như lấy lời khai, thu thập tài liệu, chứng cứ...) nhưng vẫn không thể tiếp tục giải quyết vụ án vì chưa đủ các điều kiện để ra quyết định. Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng trong nước lại để trống quy định về việc xử lý các vụ việc không có kết quả UTTP, dẫn đến hậu quả là nhiều vụ việc không có hướng xử lý. Trường hợp đã xét xử thì không thể chuyển hồ sơ nếu có kháng cáo, kháng nghị. Có những trường hợp cá nhân, tổ chức liên quan bức xúc vì sự chậm chễ trong xét xử trong khi các cơ quan nhà nước thì tốn kém về nhân lực, tài lực. Trong lĩnh vực hình sự, sự chậm chễ hoặc không có kết quả UTTP trong một số trường hợp có thể ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại của Nhà nước và uy tín của các cơ quan tư pháp.

b) Về nguyên nhân

Qua tổng kết tình hình thực hiện hoạt động TTTP, Chính phủ và các Bộ, ngành xác định nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế nêu trên như sau:

Thứ nhất, nhận thức của các Bộ, ngành về vai trò, vị trí công tác TTTP, để từ đó có đầu tư, quan tâm xây dựng thể chế cho lĩnh vực này, dù đã có tiến bộ, nhưng vẫn chưa kịp thời đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Các Bộ, ngành chưa dành sự quan tâm thích đáng cho việc nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế xử lý những đặc thù riêng của các vụ việc, vụ án có yếu tố nước ngoài có yêu cầu TTTP trong bối cảnh phát triển mới; chưa thật quyết liệt trong việc tổ chức thực hiện, nhất là trong việc bố trí nhân lực và nguồn lực cho công tác TTTP, bao gồm ở cả cấp trung ương và địa phương; công tác theo dõi, đôn đốc thực hiện hồ sơ UTTP chưa thường xuyên. Công tác tự rà soát, đánh giá thực thi các Hiệp định TTTP đã ký với các nước (đặc biệt là các nước XHCN trước đây) để từ đó rút ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hiện nhưng các Bộ, ngành chưa được quan tâm để triển khai toàn diện và thường xuyên.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ công tác trong lĩnh vực TTTP vẫn còn thiếu về số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu công tác. Kinh phí bố trí cho công tác TTTP còn hạn hẹp, chưa theo kịp sự phát triển nhanh về khối lượng và yêu cầu của công việc. Việc ứng dụng công nghệ thông tin mặc dù đã có tiến bộ nhưng mới ở bước đầu, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, chưa tạo lập được sự kết nối đồng bộ, kịp thời giữa các Bộ, ngành, địa phương qua công nghệ thông tin.

Thứ ba, mặc dù sự phối hợp của các cơ quan đầu mối trong hoạt động TTTP đã có những chuyển biến tích cực trong năm qua, nhưng do tính chất khác nhau của các lĩnh vực TTTP, nhất là giữa lĩnh vực dân sự với lĩnh vực hình sự, dẫn độ và chuyển giao NĐCHHPT, đặc thù về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy giữa các cơ quan đầu mối nên sự phối hợp này vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn.

Thứ tư, việc thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ việc có UTTP của pháp luật tố tụng một phần là do các văn bản tố tụng đều đã được ban hành trước khi có Luật TTTP nên chưa dự liệu hết được sự ảnh hưởng của hoạt động TTTP đến tố tụng trong nước; việc ký kết các hiệp định TTTP theo mong muốn của Việt Nam chưa được triển khai đúng tiến độ vì nhiều nước đối tác không có nhu cầu đàm phán hiệp định song phương với Việt Nam do họ đã tham gia các thiết chế đa phương.

Riêng đối với hoạt động thực hiện UTTP, ngoài các nguyên nhân chung của công tác TTTP như nêu trên và các nguyên nhân đã được phân tích chi tiết tại Báo cáo hoạt động TTTP năm 2013, các Bộ, ngành cũng nhận định rằng kết quả thực hiện UTTP còn chưa đáp ứng được yêu cầu vì một số lý do như sau:

- Quá trình thực hiện công tác UTTP của bản thân các cơ quan của Việt Nam chưa đáp ứng quy định tố tụng trong nước và pháp luật nước ngoài .

- Một phần khá lớn UTTP về dân sự của Việt Nam ra nước ngoài không thực hiện được do địa chỉ của đương sự không chính xác .

- Quy trình thực hiện một hồ sơ UTTP phải qua rất nhiều khâu và phải tuân thủ theo pháp luật nước ngoài nên thường bị kéo dài. Một số lượng khá lớn yêu cầu tống đạt giấy tờ trong lĩnh vực dân sự cho công dân Việt Nam ở nước ngoài hiện vẫn đang được thực hiện như quy trình tống đạt giấy tờ cho công dân nước ngoài theo kênh TTTP nên phải qua nhiều khâu trung gian, mất nhiều thời gian.

- Mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 18/2014/TT-BTC ngày 11/02/2014 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thực hiện UTTP về dân sự nhưng lại chưa có cơ chế thu nộp các chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hồ sơ UTTP, trong đó đặc biệt phải kể đến là việc đóng chi phí theo yêu cầu của phía nước ngoài nên nhiều hồ sơ UTTP của phía Việt Nam gửi đi không được nước ngoài thực hiện do chưa đóng phí theo quy định pháp luật của nước ngoài.

PHẦN II

NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước. Quá trình hội nhập quốc tế này làm gia tăng các giao dịch dân sự, thương mại có tính quốc tế, hành vi vi phạm pháp luật có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải có hợp tác quốc tế về TTTP. Công tác TTTP không chỉ quan trọng đối với các cơ quan nhà nước mà quan trọng hơn là bảo đảm công lý và tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có liên quan, đặc biệt là khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đã đưa ra những yêu cầu mới về bảo vệ, bảo đảm quyền con người. Bên cạnh đó, việc thực hiện có hiệu quả và chuyên nghiệp hóa các yêu cầu TTTP của nước ngoài sẽ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động TTTP và hợp tác quốc tế về tư pháp là một trong tám nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp của Việt Nam hiện nay .

Trước những cơ hội và thách thức đặt ra, đòi hỏi pháp luật về TTTP phải là khuôn khổ pháp luật đồng bộ và hiện đại, tạo thuận lợi tối đa cho hợp tác tư pháp giữa Việt Nam và nước ngoài. Các quy định của pháp luật phải dần rút ngắn khoảng cách với quy định của pháp luật quốc tế, đảm bảo hữu hiệu cơ chế hợp tác song phương và đa phương trong quan hệ TTTP. Đồng thời, việc tổ chức thực hiện các nội dung khác của công tác TTTP cũng đòi hỏi phải được tiến hành đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng, hoạt động TTTP có đặc thù riêng, gắn với hoạt động tố tụng trong nước, điều ước quốc tế và phụ thuộc vào sự hợp tác của phía đối tác nước ngoài. Do vậy, để có thể giải quyết toàn diện và triệt để những hạn chế, bất cập trong hoạt động TTTP cần có lộ trình và thời gian phù hợp.

Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2014, nhận thức về những tồn tại, hạn chế của công tác TTTP cần được khắc phục, Chính phủ và các Bộ, ngành xác định các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu trong năm 2015 như sau:

I. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2015

1. Về công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp

Chính phủ sẽ phối hợp với Tòa án NDTC, Viện KSNDTC sửa đổi, bổ sung quy định thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hình sự có tính đến những yêu cầu đặc thù của các vụ việc có yêu cầu UTTP để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ về pháp luật, phù hợp với thực tiễn quốc tế và khả thi trong điều kiện Việt Nam.

Bộ Tư pháp phối hợp với Tòa án NDTC, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính xây dựng văn bản hướng dẫn về việc thu nộp chi phí UTTP về dân sự. Các Bộ, ngành nghiên cứu đề xuất định hướng và nội dung sửa đổi, bổ sung Luật TTTP trên cơ sở kết quả tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP để trình các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung Luật TTTP.

2. Về công tác điều ước quốc tế

Chính phủ, các Bộ, ngành hoàn thành thủ tục gia nhập Công ước La Hay về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại, Công ước La Hay về miễn hợp pháp hóa giấy tờ công nước ngoài trình cấp có thẩm quyền quyết định; chuẩn bị các điều kiện trong nước sẵn sàng cho việc thực thi hai Công ước này khi Việt Nam chính thức gia nhập. Các Bộ, ngành tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu gia nhập các công ước La Hay và các điều ước quốc tế khác liên quan đến TTTP để thiết lập cơ sở pháp lý quốc tế về TTTP.

Thúc đẩy việc đàm phán, ký một số hiệp định TTTP đã khởi động đàm phán và xúc tiến đàm phán các Hiệp định mới, tập trung những nước mà Việt Nam thực sự có nhu cầu cao về UTTP; sửa đổi các Hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký trước những năm 2000 cho phù hợp với pháp luật và tình hình hợp tác hiện nay.

Các Bộ, ngành tổ chức thực thi nghiêm túc và có hiệu quả các Hiệp định/Thỏa thuận đang có hiệu lực, đặc biệt nâng cao kết quả thực hiện UTTP cho phía nước ngoài; các cơ quan trung ương thực hiện Hiệp định/Thỏa thuận TTTP chủ động xây dựng cơ chế tham vấn thường xuyên với phía nước ngoài.

3. Về thực hiện ủy thác tư pháp

Các Bộ, ngành tập trung tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả, nâng cao tỷ lệ hồ sơ UTTP thực hiện có kết quả, trong đó chú trọng các hoạt động theo dõi, đôn đốc thực hiện; hoàn thành đề xuất biện pháp xử lý nâng cao hiệu quả thực hiện yêu cầu UTTP về tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài; tiếp tục tổ chức kiểm tra việc thực hiện UTTP trên cả bốn lĩnh vực tại các cơ quan trực tiếp thực hiện trong và ngoài nước nhằm phát hiện kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật liên quan.

4. Về các hoạt động quản lý nhà nước

Bộ Tư pháp triển khai toàn diện các nội dung hoạt động quản lý nhà nước nhằm tăng cường và phát huy tốt vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước chung về TTTP theo quy định hiện hành; thực hiện nghiêm và thường xuyên công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra để tổ chức thực hiện đồng bộ và có hiệu quả tất cả các mặt hoạt động TTTP.

Các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc công tác báo cáo thông báo, kiểm điểm, đánh giá định kỳ để đưa công tác này đi vào chiều sâu, nội dung, thực chất; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động UTTP, qua đó thiết lập sự kết nối đồng bộ, kịp thời phục vụ tốt công tác quan lý và thực hiện hoạt động TTTP.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra, khắc phục những hạn chế, bất cập của hoạt động TTTP, trong năm 2015, Chính phủ sẽ chỉ đạo các Bộ và đề nghị Tòa án NDTC, Viện KSNDTC phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

1. Nâng cao nhận thức, ý thức của các cơ quan, cán bộ pháp luật, tư pháp soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về vai trò, tác động, yêu cầu của hội nhập quốc tế trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, nhất là Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự; tổ chức thi hành tốt các quy định của Luật TTTP.

2. Tăng cường công tác ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, đặc biệt ưu tiên các công ước đa phương về TTTP và điều ước quốc tế song phương với những nước mà Việt Nam có yêu cầu cao về TTTP; tập trung triển khai đánh giá việc thực thi các hiệp định/thỏa thuận đang có hiệu lực.

3. Tăng cường công tác phối hợp liên ngành, đặc biệt là phối hợp giữa các cơ quan đầu mối Trung ương, trong tất cả các khâu công tác TTTP để trao đổi thông tin nhanh chóng và giải quyết kịp thời các yêu cầu tương trợ phức tạp, cần có sự thống nhất của liên ngành, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; cải thiện nâng cao chất lượng công tác thông tin, thống kê, chia sẻ thông tin, dữ liệu về thực hiện UTTP; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động TTTP.

4. Kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác TTTP ở các Bộ, ngành và địa phương; tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động TTTP.

III. KIẾN NGHỊ

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, Chính phủ xin kiến nghị các điểm sau đây:

1. Đề nghị Quốc hội chỉ đạo cơ quan chủ trì hai dự án sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng có liên quan đến yếu tố nước ngoài nói chung và tương trợ tư pháp nói riêng.

2. Đề nghị Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội trong quá trình thẩm tra, xem xét, thông qua Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự quan tâm hơn các nội dung về tố tụng có liên quan tới yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp.

3. Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội sớm có văn bản giải thích khoản 14 Điều 70 Hiến pháp 2013 theo hướng các hiệp định tương trợ tư pháp không phải là các điều ước quốc tế về quyền con người.

4. Đề nghị các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội khác quan tâm, tăng cường giám sát việc thi hành Luật Tương trợ tư pháp, nhất là công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tình hình thực hiện ủy thác tư pháp.

5. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành văn bản hướng dẫn tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết các vụ việc dân sự có tương trợ tư pháp và xem xét các yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; hoàn thành công tác kiện toàn tổ chức và chỉ định một đơn vị đầu mối về công tác tương trợ tư pháp.

Trên đây là Báo cáo hoạt động tương trợ tư pháp năm 2014, Chính phủ xin trân trọng báo cáo Quốc hội./.

Nơi nhận:

- Như trên;

- Ban Bí thư Trung ương Đảng (để báo cáo);

- Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

- Các Phó Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

- Ban Nội chính Trung ương;

- Văn phòng Trung ương Đảng;

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;

- Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp (2b);

- VPCP: BTCN, các PCN, TGĐ Cổng TTĐT;

các Vụ: TH, QHQT, NC, V.III, TKBT;

- Lưu: VT, PL(3b).

 

TM. CHÍNH PHỦ

TUQ. THỦ TƯỚNG

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Đã ký

Hà Hùng Cường

Lượt xem: 11

Trang thông tin điện tử tương trợ tư pháp

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượt truy cập:

Địa chỉ: 262 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Cán bộ phụ trách: Lê Mạnh Hùng - Chức vụ: Phó Vụ trưởng
Điện thoại: +84.24.376.230.36; 0976437814
Email: phapluatquocte@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Trang TTĐT Tương trợ tư pháp - Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ tttp.toaan.gov.vn.

ácdscv