Skip to main content

CHÍNH PHỦ

-------------

Số: 427/BC-CP

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2017

BÁO CÁO

Hoạt động tương trợ tư pháp năm 2017

Kính gửi: Quốc hội

Thực hiện yêu cầu của Tổng Thư ký Quốc hội tại Văn bản số 1122/TTKQH-TH ngày 22/9/2017 về việc chuẩn bị Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV, căn cứ khoản 3 Điều 61 Luật Tương trợ tư pháp và trên cơ sở báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, ngành, Chính phủ báo cáo Quốc hội về hoạt động tương trợ tư pháp năm 2017 (từ ngày 01/10/2016 đến ngày 30/9/2017) như sau:

Phần I

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

Năm 2017, các Bộ, ngành tiếp tục triển khai thực hiện các quy định liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) được quy định trong các đạo luật lớn như Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS), Luật tố tụng hành chính (Luật TTHC), Luật điều ước quốc tế và Luật tương trợ tư pháp (Luật TTTP). Bên cạnh đó, việc thực thi một cách có hiệu quả Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước tống đạt) và các hiệp định TTTP trong lĩnh vực hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đã góp phần giải quyết các vụ việc dân sự, các vụ án hình sự và hỗ trợ tích cực cho công tác đấu tranh và phòng, chống tội phạm trong năm 2017.

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động tương trợ tư pháp

Trong năm 2017, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành đã quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo quy định của Luật TTTP, từ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, ký kết các điều ước quốc tế về TTTP, thực hiện ủy thác tư pháp (UTTP) về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đến các hoạt động quản lý nhà nước khác.

Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ có liên quan và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) phối hợp chặt chẽ để triển khai toàn diện các nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định tại Báo cáo Hoạt động tương trợ tư pháp năm 2016, đặc biệt là các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động TTTP, cụ thể như nghiên cứu và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Luật TTTP để báo cáo Quốc hội khóa XIV hay nghiên cứu đề xuất việc xã hội hóa hoạt TTTP trong lĩnh vực dân sự; thực hiện các Kế hoạch triển khai Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS), BLTTDS, Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQT ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án (Nghị quyết số 326 về án phí và lệ phí tòa án) và chủ động chuẩn bị để triển khai Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS). Trong công tác điều ước quốc tế, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành tích cực đẩy mạnh nghiên cứu, đề xuất ký kết cũng như tổ chức thực thi tốt các điều ước quốc tế đa phương và các hiệp định song phương về TTTP. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2312/QĐ-TTg ngày 29/11/2016 về Kế hoạch thực hiện Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại (Kế hoạch thực thi Công ước tống đạt), phê duyệt Đề án nghiên cứu gia nhập Công ước La Hay năm 1970 về thu thập chứng cứ, Đề án nghiên cứu gia nhập Công ước La Hay năm 1980 về khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em.

Với vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về TTTP, Bộ Tư pháp tích cực chủ trì, phối hợp với các Bộ, TANDTC, VKSNDTC triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về TTTP theo quy định của Luật TTTP và Nghị định số 92/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTP cũng như triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đã được đề xuất, cụ thể như phổ biến và chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai Kế hoạch thực thi Công ước tống đạt, xây dựng dự thảo Kế hoạch chuẩn bị gia nhập Công ước La Hay về khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em giai đoạn 2017-2021 để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; chủ trì, phối hợp với các Bộ, TANDTC, VKSNDTC đề xuất xử lý các vấn đề phức tạp về TTTP và công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; thực hiện nghiêm túc công tác báo cáo định kỳ 6 tháng và hàng năm theo quy định.

2. Công tác tổ chức, thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp

Các cơ quan đầu mối TTTP ở trung ương, các Bộ, ngành và cơ quan thực hiện tại địa phương tiếp tục triển khai các hoạt động quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện hoạt động TTTP trong từng lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.

Trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Bộ Tư pháp, TANDTC đã chủ động ban hành các kế hoạch của ngành để triển khai Công ước Tống đạt. Bộ Tư pháp đã phối hợp với tòa án địa phương trên toàn quốc rà soát tình hình thực hiện UTTP giữa Việt Nam và các quốc gia vừa là thành viên Công ước tống đạt vừa có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp song phương với Việt Nam để xác định cách thức hợp tác hiệu quả nhất. Đồng thời, trong năm 2017, Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao, TANDTC hướng dẫn thực thi Công ước tống đạt, Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự (Thông tư liên tịch số 12), các quy định mới liên quan đến TTTP về dân sự tại BLTTDS, Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết số 326 về án phí và lệ phí tòa án cho các cơ quan trực tiếp thực hiện TTTP trên toàn quốc. Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và TANDTC đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cho các tòa án địa phương. Để nâng cao hiệu quả thực hiện UTTP về dân sự, Bộ Tư pháp đã nâng cấp phần mềm tin học quản lý hồ sơ UTTP đáp ứng với các quy định mới của pháp luật trong nước cũng như của Công ước tống đạt.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, VKSNDTC và Bộ Công an tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật TTTP hình sự; những quy định mới về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTTP hình sự trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; tổ chức hội nghị liên ngành tổng kết công tác TTTP về hình sự năm 2016 và phương hướng năm 2017.

Trong tổ chức thực hiện UTTP với nước ngoài, bên cạnh kênh điều ước quốc tế, các cơ quan đầu mối cũng phát huy sự chủ động, linh hoạt trong quan hệ hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền của những nước chưa có điều ước quốc tế với Việt Nam thông qua kênh ngoại giao để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện các yêu cầu TTTP.

Bên cạnh các hoạt động chỉ đạo, điều hành, các cơ quan đầu mối về TTTP cũng tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo về các chủ đề TTTP trong các lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù cho các cán bộ trực tiếp làm UTTP ở địa phương. Đồng thời, để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và tạo điều kiện cho người dân, các cơ quan, tổ chức có liên quan đã cập nhật các thông tin về hoạt động TTTP (như công tác hoàn thiện thể chế, công tác điều ước quốc tế về TTTP, hoạt động của các Bộ, ngành về TTTP), các Bộ, ngành đã tích cực tổ chức nghiên cứu và thực hiện các chuyên đề nghiệp vụ về công tác TTTP; đăng tải các bài viết về TTTP trên báo, tạp chí, cổng thông tin điện tử của ngành.

II. XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ

Triển khai nhiệm vụ trọng tâm tại Báo cáo Quốc hội năm 2016, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với TANDTC, VKSNDTC, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an nghiên cứu và đề xuất phương án sửa đổi Luật TTTP. Thực hiện nhiệm vụ này, trên cơ sở cập nhật kết quả tổng kết 6 năm thi hành Luật TTTP, nghiên cứu kinh nghiệm và thực tiễn quốc tế về xây dựng, thực thi pháp luật TTTP, các Bộ, ngành đều thấy rằng việc sớm đề xuất sửa đổi Luật TTTP một cách toàn diện là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, giải quyết các vụ việc dân sự và hình sự trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cải cách pháp luật, tư pháp; phân định rõ phạm vi điều chỉnh giữa Luật TTTP và các luật chuyên ngành về tố tụng. Các Bộ, ngành đều thống nhất đề xuất phương án sửa đổi Luật TTTP theo hướng tách thành các luật riêng điều chỉnh từng lĩnh vực TTTP (dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù) để khắc phục những bất cập, hạn chế của Luật TTTP hiện hành, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, đồng thời đảm bảo phù hợp với xu thế chung của thế giới trong lĩnh vực này. Về phương án thực hiện, các cơ quan đầu mối trong từng lĩnh vực TTTP chịu trách nhiệm xây dựng và trình dự thảo luật riêng trong phạm vi phụ trách của mình theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 nhưng phải đảm bảo thống nhất về tiến độ thực hiện để có thể thay thế toàn bộ Luật TTTP hiện hành. Về thời gian trình các dự án Luật, các Bộ, ngành đề xuất để đưa vào Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh năm 2020 .

Để khắc phục những vướng mắc trong hoạt động UTTP về dân sự, đặc biệt để thực hiện các quy định mới của BLTTDS về giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và Công ước tống đạt, liên ngành Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 12 thay thế Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp. Thông tư liên tịch số 12 đã nội luật hóa Công ước tống đạt, phù hợp các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của BLTTDS và xây dựng cơ chế thu, nộp chi phí UTTP về dân sự đảm bảo hoạt động UTTP thực hiện đúng các cam kết quốc tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao và TANDTC cũng đang khẩn trương hoàn thiện thông tư liên tịch điều chỉnh quy trình tống đạt giấy tờ riêng cho công dân Việt Nam ở nước ngoài với các quy định mới phù hợp với BLTTDS, cho phép chuyển trực tiếp các văn bản tố tụng cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cắt giảm các khâu trung gian trong nước. Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương chính sách xã hội hóa tại Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về chế định thừa phát lại; Quyết định số 2312/QĐ-TTg ngày 29/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại, Bộ Tư pháp đã đưa quy định giao thừa phát lại thực hiện tống đạt giấy tờ của nước ngoài về TTTP trong lĩnh vực dân sự vào dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thay thế Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, trên cơ sở các quy định của BLTTHS, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, VKSNDTC nghiên cứu sửa đổi Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác này.

III. KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương

Trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Bộ Tư pháp đang rà soát, đánh giá và xây dựng phương án đàm phán hiệp định TTTP để trao đổi với Cộng hòa Xlô-va-ki-a, Cộng hòa Hung-ga-ri, Vương quốc Thái Lan và Ấn Độ.

Trong lĩnh vực TTTP về hình sự, VKSNDTC đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tiến hành đàm phán thành công 01 Hiệp định; tổ chức ký chính thức 02 Hiệp định; hoàn thiện thủ tục chuẩn bị đàm phán 04 Hiệp định; trình phê chuẩn 01 Hiệp định. (Xin xem chi tiết tại Phụ lục đính kèm).

Trong lĩnh vực dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Bộ Công an đã chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành ký chính thức 01 Hiệp định dẫn độ, 02 Hiệp định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; đàm phán 01 Hiệp định dẫn độ, 01 Hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, hoàn thành thủ tục đề xuất đàm phán 01 Hiệp định dẫn độ và 03 Hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành phạt tù (Xin xem chi tiết tại Phụ lục đính kèm).

Đặc biệt, trong năm 2017, Bộ Công an đã trình Chính phủ để trình Chủ tịch nước phê chuẩn 04 hiệp định dẫn độ và 05 hiệp định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đã ký từ những năm trước.

2. Ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế đa phương và hợp tác khu vực trong tương trợ tư pháp

a) Trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế

Tiếp tục đẩy mạnh và triển khai hoạt động nghiên cứu khả năng gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về TTTP, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án của Bộ Tư pháp về nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước La Hay năm 1970 về thu thập chứng cứ tại nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước thu thập chứng cứ), theo đó Việt Nam sẽ tiến hành các thủ tục gia nhập Công ước này trong năm 2019. Công ước thu thập chứng cứ và Công ước tống đạt là một cặp công cụ pháp lý đồng hành, hỗ trợ tích cực và có hiệu quả cho hoạt động TTTP trong lĩnh vực dân sự, qua đó giúp giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài một cách nhanh chóng và bảo đảm quy trình tố tụng. Do vậy, cùng với việc gia nhập Công ước tống đạt, nếu Việt Nam gia nhập Công ước thu thập chứng cứ sẽ góp phần hoàn thiện, đồng bộ hóa cơ sở pháp lý quốc tế cho hợp tác TTTP về dân sự của Việt Nam. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án của Bộ Tư pháp về nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước La Hay 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em (Công ước bắt cóc trẻ em). Đây là Công ước quan trọng với 98 nước thành viên tham gia, trong đó hầu hết các nước có nhiều công dân quan hệ hôn nhân, gia đình với công dân Việt Nam là thành viên. Công ước sẽ tạo cơ sở pháp lý quốc tế để giải quyết những vụ việc hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.

b) Hợp tác khu vực về tương trợ tư pháp

Triển khai “Sáng kiến tăng cường tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại giữa các nước ASEAN” và kết luận của Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp các nước ASEAN lần thứ 9, vào tháng 11/2016, Bộ Tư pháp đã tổ chức thành công Diễn đàn pháp luật ASEAN “Một số Công ước của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế trong mối liên hệ với ASEAN”. Diễn đàn có sự tham dự của đại diện 6 nước thành viên ASEAN, Ban thư ký ASEAN; đại diện Ban Thư ký Hội nghị La Hay và chuyên gia một số nước Úc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Thụy Sỹ. Diễn đàn cập nhật tình hình nghiên cứu, gia nhập các Công ước của Hội nghị La Hay trong ASEAN, chia sẻ kinh nghiệm gia nhập và thực thi của các nước có nhiều quan hệ với khu vực nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu, gia nhập các Công ước của Hội nghị La Hay của các nước ASEAN, tạo cơ sở cho việc tăng cường hợp tác tư pháp và pháp luật không chỉ giữa các nước trong khu vực mà còn giữa khu vực và quốc tế trong bối cảnh ASEAN đang nỗ lực trở thành một Cộng đồng “gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế, có trách nhiệm về xã hội và hợp tác với bên ngoài”.

Bên cạnh đó, các cơ quan đầu mối Trung ương cũng đã tổ chức các hội nghị song phương với các nước có chung biên giới nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác trong lĩnh vực tư pháp. Tại các hội nghị này, nội dung về thực thi Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia và Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự, hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác TTTP dân sự, hình sự cũng được các cơ quan hai bên thảo luận.

Ngoài ra, các cơ quan đầu mối cũng cử cán bộ tham gia và đóng góp ý kiến tại Hội nghị mạng lưới không chính thức của các cơ quan thu hồi tài sản tại Hàn Quốc; Nhóm công tác chung Việt Nam-Thái Lan; Hội thảo đấu tranh phòng, chống tội phạm tài trợ khủng bố và các tội phạm tài chính khác; Hội nghị cấp cao khu vực về việc đẩy nhanh quá trình triển khai thực hiện Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Hội thảo về TTTP và dẫn độ lần thứ 4 khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

3. Tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp

Trong năm 2017, các cơ quan đầu mối TTTP trong từng lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tiếp tục tăng cường vai trò là Cơ quan trung ương được quy định trong các Hiệp định/Thỏa thuận về TTTP giữa Việt Nam và nước ngoài.

Đối với các điều ước quốc tế mới được ký kết, các cơ quan đầu mối đều nghiêm túc, khẩn trương xây dựng kế hoạch thực hiện của Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành tạo cơ sở cho việc triển khai đồng bộ các quyền và nghĩa vụ của Việt Nam theo các cam kết quốc tế. Đồng thời, các cơ quan cũng chủ động ban hành kế hoạch nội bộ để thực hiện.

Đối với các điều ước đã có hiệu lực, các cơ quan đầu mối đều tích cực, thường xuyên liên hệ, trao đổi trực tiếp với các cơ quan đầu mối của các nước đối tác để tham vấn về việc thực hiện các yêu cầu TTTP, thống nhất các giải pháp để xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các yêu cầu UTTP giữa hai bên, góp phần thúc đẩy tích cực hoạt động TTTP, nhất là trong việc bảo hộ công dân.

Ở trong nước, song song với việc đôn đốc cơ quan trong nước thực hiện UTTP của nước ngoài, hoạt động rà soát tiến độ thực hiện UTTP của các cơ quan có thẩm quyền trong nước cũng được các cơ đầu mối chú trọng thông qua việc rà soát, tổng kết, đánh giá việc thực thi các Hiệp định song phương. Cụ thể như trong lĩnh vực TTTP về dân sự, sau khi Công ước tống đạt đi vào thực hiện với Việt Nam, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan thực hiện tại địa phương rà soát, đánh giá việc thực hiện tống đạt giấy tờ với những nước vừa có Hiệp định song phương với Việt Nam vừa là thành viên Công ước Tống đạt. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã gửi Công hàm tới 11 quốc gia vừa là thành viên của Công ước tống đạt và có ký hiệp định TTTP với Việt Nam để đề nghị ưu tiên thực hiện tống đạt giấy tờ theo quy định của hiệp định song phương vì phù hợp hơn với điều kiện của Việt Nam.

Để hỗ trợ cho công tác thực hiện điều ước quốc tế về TTTP, các Bộ, ngành cũng quan tâm việc đăng tải, cập nhật các Hiệp định TTTP, điều ước quốc tế mới có hiệu lực, các thông tin hướng dẫn nghiệp vụ hoặc xây dựng chuyên mục riêng về thực hiện các hiệp định, điều ước quốc tế trên các chuyên trang về tương trợ tư pháp tại Cổng thông tin điện tử của Bộ, ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu và thực thi.

IV. THỰC HIỆN ỦY THÁC TƯ PHÁP

1. Tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự

Trong năm 2017, việc thực hiện UTTP về dân sự có thay đổi do nhiều quy định pháp luật mới trong nước về TTTP trong lĩnh vực dân sự (BLTTDS, Thông tư liên tịch số 12, Nghị quyết số 326 về án phí và lệ phí tòa án) cũng như điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước tống đạt, đi vào thực thi trên thực tiễn. Một số điểm mới đáng lưu ý đó là: (i) tách hoạt động tống đạt văn bản cho công dân Việt Nam ở nước ngoài ra khỏi quy trình TTTP về dân sự, văn bản tống đạt cho công dân Việt Nam ở nước ngoài thay vì được gửi qua các cơ quan trung gian là Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao như trước đây thì nay được chuyển trực tiếp từ cơ quan yêu cầu cho cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài để tống đạt cho đương sự; (ii) giảm số lượt yêu cầu UTTP trong một vụ việc thông qua việc gộp các thông báo cần tống đạt theo quy định mới của BLTTDS; (iii) thực hiện thu nộp chi phí UTTP theo cơ chế mới.

Trong nửa đầu năm 2017, Bộ Tư pháp vẫn phải tiếp tục xử lý các hồ sơ UTTP hoặc tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài đã được lập theo quy định cũ trước khi Thông tư liên tịch 12 có hiệu lực. Trong nửa cuối năm 2017, hồ sơ UTTP đã được lập theo quy định mới và chủ yếu được thực hiện theo kênh điều ước quốc tế cả song phương và đa phương.

Theo số liệu thống kê chính thức của Bộ Tư pháp, tình hình thực hiện UTTP về dân sự qua cơ quan đầu mối trong năm 2017 cụ thể như sau:

a) UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

- Tổng số yêu cầu UTTP của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã gửi cho nước ngoài qua đầu mối Bộ Tư pháp là 1861 yêu cầu. Trong đó có 1122 yêu cầu (chiếm gần 60%) được gửi thông qua kênh ngoại giao đến những nước chưa có điều ước quốc về TTTP với Việt Nam (chủ yếu thực hiện ở nửa đầu năm 2017); 739 yêu cầu thực hiện theo kênh điều ước quốc tế (218 yêu cầu thực hiện theo kênh Công ước tống đạt, 521 yêu cầu thực hiện theo kênh Hiệp định TTTP song phương).

- Tổng số yêu cầu UTTP có trả lời là 855/1861 yêu cầu (chiếm gần 46%), trong đó, 583/1122 yêu cầu gửi theo kênh ngoại giao có trả lời; 8/218 yêu cầu gửi theo kênh Công ước tống đạt có trả lời , 264/521 yêu cầu gửi theo kênh Hiệp định song phương có trả lời.

Các hồ sơ UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam vẫn chủ yếu là tống đạt giấy tờ, tài liệu, bản án, các quyết định của tòa án, yêu cầu về thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc, tập trung ở các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, hành chính, lao động và các vụ việc về hộ tịch.

Các nước và vùng lãnh thổ mà Việt Nam gửi yêu cầu UTTP nhiều nhất vẫn là Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Lãnh thổ Đài Loan, Ốt-xtờ-rây-li-a và Hàn Quốc.

So sánh kết quả chung thực hiện yêu cầu UTTP gửi ra nước ngoài năm 2017 với năm 2016 cho thấy tỷ lệ yêu cầu UTTP gửi đi có kết quả trả lời giảm 11%. Đồng thời, tỷ lệ có trả lời từ những nước đã có điều ước quốc tế với Việt Nam cũng giảm 6%.

b) UTTP theo yêu cầu của Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Bộ Tư pháp đã tiếp nhận 753 yêu cầu UTTP về dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài và chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền trong nước thực hiện, trong đó 616 yêu cầu thực hiện theo kênh Hiệp định TTTP song phương; 86 yêu cầu thực hiện theo kênh Công ước tống đạt và 51 yêu cầu thực hiện theo kênh ngoại giao.

Tổng số yêu cầu có kết quả trả lời là 493/753 (đạt gần 66%), trong đó kết quả thực hiện theo Hiệp định song phương là 345/616, theo kênh Công ước tống đạt là 47/86, theo kênh ngoại giao là 47/51, đều tăng so với kết quả thực hiện năm 2016.

UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài liên quan chủ yếu đến tống đạt giấy tờ, tài liệu, thu thập chứng cứ, lấy lời khai đương sự trong các vụ việc về hôn nhân và gia đình, yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn, yêu cầu về quyền nuôi con sau khi ly hôn, các vụ việc thương mại và lao động.

2. Tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự

Theo báo cáo của VKSNDTC, cơ quan đầu mối TTTP về hình sự, tình hình thực hiện UTTP về hình sự cụ thể như sau:

a) UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

VKSNDTC đã thụ lý và giải quyết 131 hồ sơ, văn bản ủy thác tư pháp hình sự từ các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện, trong đó 80% yêu cầu từ các nước đã ký Hiệp định với Việt Nam như CHDCND Lào, Liên bang Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Xinh-ga-po… đã nhận được 62 kết quả thực hiện.

Nội dung yêu cầu TTTP chủ yếu liên quan đến việc thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt tài liệu, giấy tờ, thu hồi tài sản do phạm tội mà có ở các nước. Các yêu cầu TTTP về hình sự của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam liên quan đến tội phạm nghiêm trọng như tham ô tài sản, cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, các tội xâm phạm quyền sở hữu khác, các tội phạm ma túy, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm con người.

b) UTTP theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

VKSNDTC đã thụ lý và giải quyết 87 hồ sơ, văn bản UTTP về hình sự theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, trong đó 84% yêu cầu từ các quốc gia đã ký Hiệp định với Việt Nam như Cộng hòa Séc, Liên bang Nga, Hàn Quốc, Ba Lan… đã phối hợp thực hiện có kết quả 51 yêu cầu.

Nội dung yêu cầu TTTP về hình sự chủ yếu liên quan đến việc lấy lời khai, xác minh, thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt tài liệu, giấy tờ, chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan đến các tội phạm nghiêm trọng như giết người, mua bán trái phép ma túy, tham nhũng, rửa tiền, đặc biệt đã xuất hiện yêu cầu liên quan đến tội phạm sử dụng công nghệ cao để chiếm đoạt tài sản . Ngoài ra, còn có một số yêu cầu liên quan đến thu hồi tài sản nghi ngờ do phạm tội mà có (vụ Vinashinlines); yêu cầu cho phép người tiến hành tố tụng của nước ngoài vào Việt Nam tham gia thực hiện yêu cầu TTTP và yêu cầu mời người làm chứng ở Việt Nam ra nước ngoài tham gia phiên tòa .

3. Về thực hiện yêu cầu về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Theo số liệu thống kê của Bộ Công an, cơ quan đầu mối về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, tình hình thực hiện yêu cầu TTTP trong hai lĩnh vực này cụ thể như sau:

a) Về dẫn độ

Bộ Công an đã lập và chuyển 08 hồ sơ yêu cầu dẫn độ đối tượng từ nước ngoài về Việt Nam (03 yêu cầu theo các Hiệp định song phương giữa Việt Nam và các nước và 05 yêu cầu theo nguyên tắc có đi có lại).

Bộ Công an cũng đã tiếp nhận và xử lý 03 yêu cầu dẫn độ của nước ngoài (02 yêu cầu theo các Hiệp định song phương giữa Việt Nam và các nước và 01 yêu cầu theo nguyên tắc có đi có lại); tiếp tục xử lý 10 yêu cầu đã tiếp nhận trước đó (02 yêu cầu theo hiệp định song phương, 08 yêu cầu theo nguyên tắc có đi có lại) trong đó 08 đối tượng đã bị dẫn độ về quốc gia yêu cầu, 02 yêu cầu bị từ chối do đối tượng không có mặt trên lãnh thổ Việt Nam; đề nghị bổ sung thông tin đối với 02 yêu cầu và chuyển tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết 01 yêu cầu.

b) Về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Bộ Công an đã tiếp nhận và giải quyết 01 hồ sơ chuyển giao người bị kết án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam (theo nguyên tắc có đi có lại) và 12 hồ sơ chuyển giao người bị kết án phạt tù từ Việt Nam ra nước ngoài (theo Hiệp định song phương); đã tổ chức bàn giao 01 phạm nhân ra nước ngoài và tiếp nhận 01 phạm nhân về Việt Nam tiếp tục chấp hành hình phạt tù.

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Kết quả đạt được

Trong năm 2017, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành, các cơ quan thực hiện tại địa phương đã tích cực triển khai toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp được đề xuất với Quốc hội tại Báo cáo hoạt động TTTP năm 2016 và đã đạt được những kết quả tích cực, trong đó có những điểm đáng chú ý như sau:

- Công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện hoạt động TTTP được chú trọng, Chính phủ, các Bộ, ngành đã chủ động ban hành và triển khai toàn diện các kế hoạch thực thi các đạo luật lớn (BLTTDS, BLTTHS, Luật TTHC) và các điều ước quốc tế trong lĩnh vực TTTP, tạo cơ sở cho các Bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộ, thống nhất các quy định pháp luật mới liên quan đến TTTP. Các Bộ, ngành đầu mối về TTTP trong từng lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đã tăng cường phối hợp, chỉ đạo và hướng dẫn các cơ quan ở địa phương, Toà án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực thi các quy định pháp luật về TTTP, qua đó dần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn công tác TTTP, góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật và điều ước quốc tế được thống nhất từ cấp Trung ương đến địa phương và ngày càng đi vào nề nếp.

- Về công tác xây dựng hoàn thiện thể chế về TTTP, trong lĩnh vực TTTP về dân sự, Thông tư liên tịch 12 được ban hành đã nội luật hóa các quy định và xây dựng các biểu mẫu cụ thể phù hợp với Công ước tống đạt, phù hợp với những quy định mới BLTTDS liên quan đến TTTP; bổ sung những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu nộp chi phí thực tế thực hiện UTTP về dân sự. Thông tư liên tịch này không chỉ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn trong thực hiện UTTP thời gian qua mà đồng thời còn tạo cơ sở pháp lý trong nước để thực thi Công ước tống đạt được thuận lợi và chủ động ngay khi Công ước chính thức có hiệu lực với Việt Nam. Có thể thấy, trong năm 2017, thể chế về TTTP trong lĩnh vực dân sự đã có một bước tiến quan trọng, đồng bộ, khả thi, mang tính hội nhập quốc tế cao, khắc phục được cơ bản những bất cập, hạn chế, khó khăn về thể chế cũng như của thực tiễn trong thời gian qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện TTTP về dân sự.

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Luật TTTP theo hướng tách thành những lĩnh vực riêng cũng tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống thể chế về TTTP trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Các quy định về xã hội hóa hoạt động tống đạt giấy tờ nước ngoài theo Công ước tống đạt nếu được ban hành và đi vào thực hiện sẽ giảm tải công việc cho các cơ quan nhà nước, tiết kiệm chi phí cho ngân sách nhà nước, đồng thời mở rộng phạm vi hoạt động của thừa phát lại, góp phần thúc đẩy nghề thừa phát lại phát triển.

- Về công tác điều ước quốc tế, công tác đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về TTTP tiếp tục được Chính phủ, các Bộ, ngành chú trọng, có trọng tâm, trọng điểm. Chính phủ, các Bộ, ngành đầu mối đã hoàn thành việc ký kết nhiều điều ước quốc tế về TTTP với nhiều nước, đặc biệt là các nước láng giềng, và một số nước đối tác quan trọng của Việt Nam. Kết quả này đã góp phần mở rộng cơ sở hợp tác quốc tế ngày càng toàn diện trong lĩnh vực TTTP giữa Việt Nam và quốc tế. Việc Công ước tống đạt chính thức đi vào thực thi tại Việt Nam là một sự kiện pháp lý hết sức quan trọng mở ra kênh hợp tác chính thức về TTTP trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam và 71 quốc gia thành viên, trong đó có hầu hết các quốc gia mà Việt Nam có nhiều nhu cầu UTTP về tống đạt giấy tờ giúp tháo gỡ cơ bản “điểm nghẽn” về UTTP tống đạt giấy tờ, hỗ trợ tích cực cho tòa án trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đẩy mạnh thực hiện ký kết các điều ước quốc tế về TTTP, Chính phủ, các Bộ, ngành cũng đã chủ động chuẩn bị các điều kiện trong nước từ hoàn thiện thể chế đến ban hành các kế hoạch thi hành, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn để sẵn sàng thực thi điều ước quốc tế đa phương. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để Việt Nam không chỉ có thể thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế mà hơn thế nữa là chủ động khai thác, tận dụng tối đa các quyền lợi cho Việt Nam.

- Về thực hiện các yêu cầu TTTP, các cơ quan đầu mối trung ương tiếp tục thực hiện tốt vai trò đầu mối ở cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; chủ động phối hợp trong nội bộ và tiến hành đôn đốc, rà soát, hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện các hồ sơ UTTP. Việc chủ động, tích cực kết nối, trao đổi trực tiếp với các cơ quan trung ương của nước ngoài, đã góp phần tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, qua đó đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện các yêu cầu TTTP. Việc thực hiện các yêu cầu TTTP đã đi vào nề nếp theo đúng các quy trình thủ tục mới. Trong lĩnh vực dân sự, việc tách thủ tục tống đạt cho công dân Việt Nam ở nước ngoài ra khỏi thủ tục TTTP đã cắt giảm quy trình qua các cơ quan trung gian cùng với việc thực thi quy định mới của BLTTDS về giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã góp phần thiết thực rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc dân sự, giảm chi phí UTTP.

2. Khó khăn, tồn tại và nguyên nhân

a) Về khó khăn, tồn tại

Mặc dù các Bộ, ngành đã có nhiều cố gắng nhưng công tác TTTP trong năm 2017 vẫn còn gặp phải một số khó khăn, tồn tại cần được khắc phục trong giai đoạn tới, trong đó tập trung ở một số vấn đề chính như sau:

- Về công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước trong hoạt động TTTP vẫn còn một số nội dung chưa được đầu tư nguồn lực để triển khai như hoạt động phối hợp liên ngành trong hướng dẫn, rà soát, kiểm tra tình hình thực hiện UTTP tại tòa án, các cơ quan thực hiện TTTP về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại địa phương cũng như tại các cơ quan đại diện Việt Nam, việc hướng dẫn các quy định mới về TTTP ở giai đoạn đầu năm 2017 còn lúng túng.

- Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế trong năm 2017 còn chậm. Việc triển khai nghiên cứu đưa ra định hướng sửa đổi Luật TTTP để trình Chính phủ xem xét, quyết định vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện; dự thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Ngoại giao và TANDTC quy định việc phối hợp giữa TANDTC và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về thực hiện một số hoạt động tố tụng dân sự và tố tụng hành chính ở nước ngoài trong đó có nội dung về tống đạt giấy tờ đối với công dân Việt Nam thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng đang ở giai đoạn chuẩn bị trình ký liên ngành.

- Về công tác ký kết và thực hiện điều ước quốc tế: Việc hướng dẫn thực hiện Luật Điều ước quốc tế năm 2016 của các cơ quan chức năng trong một số trường hợp còn chưa kịp thời và thống nhất dẫn đến một số cơ quan đầu mối còn lúng túng khi thực hiện. Việc liên hệ với một số đối tác nước ngoài để thúc đẩy đàm phán và ký kết hiệp định TTTP trong cả bốn lĩnh vực còn gặp khó khăn, chậm tiến độ so với kế hoạch, một số mục tiêu đặt ra chưa đạt được. Cụ thể như trong lĩnh vực dân sự, trong năm 2017 không tiến hành đàm phán hiệp định nào; trong lĩnh vực hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù mặc dù đã xúc tiến đàm phán và ký được một số điều ước quốc tế song phương nhưng mới đảm bảo được yêu cầu về ký kết điều ước với các nước láng giềng, các nước có quan hệ truyền thống mà chưa thực hiện được mục tiêu ký kết điều ước với các nước có đông công dân Việt Nam sinh sống hay các nước có quan hệ kinh tế, đối tác chiến lược nên việc hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và giải quyết các yêu cầu TTTP hình sự chưa đạt được kết quả mong muốn. Trong gia nhập điều ước quốc tế đa phương, nhiệm vụ trọng tâm liên tiếp trong năm 2016, 2017 là trình Chính phủ về việc gia nhập Công ước La Hay về miễn hợp pháp hóa giấy tờ công nước ngoài nhưng cho đến thời điểm hiện nay nhiệm vụ này vẫn chưa hoàn thành.

- Về thực hiện các yêu cầu TTTP: Việc thực hiện các yêu cầu TTTP trong cả bốn lĩnh vực thường mất nhiều thời gian, trong khi yêu cầu giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hình sự phải tuân thủ thời hạn luật định. Việc chậm có kết quả thực hiện TTTP đối với cả yêu cầu TTTP của Việt Nam ra nước ngoài hay yêu cầu TTTP của nước ngoài vào Việt Nam trong nhiều trường hợp đã ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả thực hiện tố tụng trong nước cũng như trong quan hệ hợp tác với phía nước ngoài. Bên cạnh đó, chất lượng hồ sơ ủy thác tư pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng gửi ra nước ngoài còn hạn chế như thiếu thông tin, tài liệu cần thiết, không đáp ứng yêu cầu về ngôn ngữ, biểu mẫu nên phải lập lại hoặc bổ sung thông tin làm tăng thời gian và công sức thực hiện. Trong lĩnh vực dân sự, ở nửa đầu năm 2017 khi mới áp dụng các quy định mới của Thông tư liên tịch 12 và Công ước tống đạt, hầu hết hồ sơ UTTP về dân sự các tòa án địa phương lập không đáp ứng yêu cầu phải trả lại để hoàn thiện. Bên cạnh đó, việc thu nộp chi phí thực tế tống đạt giấy tờ cho phía nước ngoài theo quy định của Công ước tống đạt cũng gặp nhiều lúng túng, khó khăn làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện UTTP.

- Về hoạt động công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài (CN và CTH), theo quy định mới của BLTTDS, kể từ ngày 01/7/2016 các yêu cầu CN và CTH được gửi trực tiếp cho Tòa án có thẩm quyển và chỉ gửi cho Bộ Tư pháp khi giữa Việt Nam và phía nước ngoài có điều ước quốc tế về CN và CTH trong đó quy định người yêu cầu CN và CTH phải gửi đơn thông qua Bộ Tư pháp . BLTTDS cũng quy định Tòa án có trách nhiệm thông báo việc thụ lý cũng như kết quả giải quyết yêu cầu cho Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, kể từ sau khi BLTTDS có hiệu lực cho đến nay, Bộ Tư pháp chưa nhận được thông báo nào của Tòa án về nội dung này. Vì vậy, Bộ Tư pháp chưa có thông tin để tổng kết, báo cáo về tình hình CN và CTH trong thực hiện nhiệm vụ cơ quan đầu mối quốc gia về thực thi Công ước Niu-ước 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, cũng như đánh giá thực tiễn CN và CTH để đề xuất tiếp tục đưa nội dung này vào dự thảo các Hiệp định TTTP dân sự.

b) Về nguyên nhân

Qua tổng kết công tác TTTP thời gian qua, Chính phủ và các Bộ, ngành xác định một số nguyên nhân chính trong đó có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của các khó khăn, tồn tại nêu trên như sau:

- Về thể chế, Luật TTTP điều chỉnh cả 4 lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù là chưa thực sự phù hợp, bởi vì nội dung của các lĩnh vực không có nhiều gắn kết, tính chất và trình tự, thủ tục thực hiện ở mỗi lĩnh vực là khác nhau ảnh hưởng công tác quản lý nhà nước, phối hợp trong triển khai thi hành. Với nội dung đa ngành nên việc nghiên cứu sửa đổi Luật TTTP do nhiều cơ quan khác nhau chủ trì ở mỗi lĩnh vực, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đầu tư thời gian, công tác nghiên cứu không chỉ về nội dung mà cả lộ trình, cách thức phối hợp cho phù hợp và đảm bảo tính khả thi vì vậy cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

- Đối với công tác điều ước quốc tế về TTTP, hoạt động đàm phán, ký kết và thực thi điều ước quốc tế về TTTP trong cả bốn lĩnh vực, bên cạnh sự tích cực, chủ động của các Bộ, ngành, còn phụ thuộc nhiều thiện trí hợp tác của phía nước ngoài. Tuy nhiên, một số đối tác trong đó có cả các đối tác chiến lược chưa thật sự mong muốn đàm phán để ký kết hiệp định song phương với Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực dân sự.

- Trong công tác tổ chức thực hiện TTTP, các cơ quan đầu mối cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đều triển khai toàn diện hoạt động đôn đốc, hướng dẫn thực hiện hồ sơ TTTP đối với các địa phương, tuy nhiên, có lúc vẫn còn chưa thật sự sát sao, quyết liệt và kịp thời. Đặc biệt trong lĩnh vực dân sự, do nhiều quy định mới của pháp luật trong nước cũng như Công ước tống đạt mới có hiệu lực nên trong thời gian đầu áp dụng các Bộ, ngành và địa phương còn nhiều bỡ ngỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan trực tiếp thực hiện TTTP tại địa phương cũng chưa chủ động, nghiêm túc trong việc nghiên cứu để áp dụng đúng, thống nhất các quy định về TTTP trong cả bốn lĩnh vực. Ngoài ra, một số nguyên nhân khách quan khác như sự khác nhau trong quy định của pháp luật nước ngoài, hay thông tin thiếu hoặc không chính xác của hồ sơ cũng ảnh hưởng đến kết quả thực hiện UTTP.

- Trong công tác CN và CTH, việc phối hợp giữa TANDTC và Bộ Tư pháp chưa chặt chẽ, các TAND cấp tỉnh/ thành phố có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chưa thực hiện đầy đủ các quy định của BLTTDS liên quan đến nội dung phối hợp, gửi kết quả giải quyết yêu cầu CN và CTH cho Bộ Tư pháp.

- Về nguồn lực thực hiện công tác TTTP, yêu cầu TTTP ngày càng gia tăng khối lượng, phạm vi ngày càng rộng, nội dung TTTP phức tạp trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đòi hỏi sự đầu tư, bổ sung và nâng cao chất lượng nguồn lực về cả nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất từ cấp trung ương đến địa phương để đảm bảo thực hiện. Tuy nhiên, trong bối cảnh chung thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nên không thể bố trí thêm nhân lực và vật lực cho công tác này. Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ hiện đang làm công tác TTTP cũng chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu công tác. Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động TTTP đặc biệt kinh phí hỗ trợ cho hoạt động TTTP trong lĩnh vực dân sự chưa được phân bổ cho các cơ quan địa phương ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này đặc biệt đối với việc thực hiện các UTTP của nước ngoài tại các vùng sâu, vùng xa. Nguồn lực hạn chế như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác TTTP ở cả bốn lĩnh vực.

Phần II

NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

I. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2018

1. Về công tác xây dựng hoàn thiện pháp luật về TTTP

Chính phủ chỉ đạo Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành trong năm 2018 khẩn trương hoàn thành đề xuất cụ thể về hướng sửa đổi Luật TTTP để báo cáo Chính phủ xem xét, trình các cấp có thẩm quyền đưa vào trong Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh của Quốc hội trong nhiệm kỳ này.

Bộ Ngoại giao và TANDTC ban hành Thông tư liên tịch về thực hiện một số hoạt động tố tụng dân sự và tố tụng hành chính ở nước ngoài trong đó có nội dung về tống đạt giấy tờ đối với công dân Việt Nam thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

2. Về công tác điều ước quốc tế và hợp tác khu vực

Triển khai theo kế hoạch việc ký kết và thực thi có hiệu quả các điều ước quốc tế về TTTP trong cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, đặc biệt là với các đối tác có nhiều người Việt Nam sinh sống và có quan hệ dân sự, thương mại, đầu tư phát triển với Việt Nam. Ưu tiên việc nghiên cứu gia nhập và thực thi tốt các điều ước quốc tế đa phương về TTTP.

Tiếp tục nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để gia nhập Công ước thu thập chứng cứ và Công ước bắt cóc trẻ em theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Các Bộ, ngành tổ chức thực thi nghiêm túc và có hiệu quả các Hiệp định/Thỏa thuận đang có hiệu lực, nâng cao kết quả thực hiện UTTP cho phía nước ngoài, trong đó đặt biệt là triển khai hiệu quả Kế hoạch thực thi Công ước tống đạt giấy tờ.

3. Về thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp

Các Bộ, ngành, đặc biệt là các cơ quan đầu mối về TTTP và các cơ quan ở địa phương triển khai thực hiện đầy đủ và toàn diện các quy định pháp luật về TTTP, các quy định mới tại BLTTDS, BLTTHS, Luật TTHC, các văn bản liên quan và điều ước quốc tế; thực hiện nhanh và đầy đủ các yêu cầu TTTP trong cả bốn lĩnh vực. Các cơ quan đầu mối tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, xử lý các yêu cầu UTTP phức tạp, định kỳ thống kê, rà soát tiến độ thực hiện các yêu cầu TTTP.

4. Về công tác quản lý nhà nước

Bộ Tư pháp triển khai toàn diện các nội dung hoạt động quản lý nhà nước nhằm tăng cường và phát huy tốt vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước chung về TTTP theo quy định hiện hành; thực hiện nghiêm và thường xuyên công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra để tổ chức thực hiện đồng bộ và có hiệu quả tất cả các mặt hoạt động TTTP.

Các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc công tác báo cáo, kiểm điểm, đánh giá định kỳ để đưa công tác này đi vào chiều sâu, nội dung, thực chất. Các cơ quan đầu mối tiếp tục đẩy mạnh hoạt động hướng dẫn, đôn đốc và tổ chức kiểm tra việc thực hiện UTTP ở cả bốn lĩnh vực tại các cơ quan trực tiếp thực hiện trong nước và ngoài nước để kịp thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật có liên quan.

5. Về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án, phán quyết trọng tài nước ngoài

Các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định của BLTTDS, các điều ước quốc tế có liên quan, nhất là các nội dung phối hợp liên ngành.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra, khắc phục những hạn chế, bất cập của hoạt động TTTP, trong năm 2018, Chính phủ sẽ chỉ đạo các Bộ và đề nghị TANDTC, VKSNDTC tiếp tục phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

1. Tăng cường trách nhiệm, sự chủ động của các cơ quan đầu mối trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện thể chế về TTTP đặc biệt trong việc nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Luật TTTP đồng thời đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan này khi tiến hành sửa đổi đồng bộ luật.

2. Các cơ quan trung ương thực hiện Hiệp định/Thỏa thuận TTTP chủ động xây dựng cơ chế tham vấn thường xuyên với phía nước ngoài; tăng cường tiến hành rà soát tình hình thực hiện Hiệp định/Thỏa thuận để kịp thời giải quyết những bất cập, xử lý những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi Hiệp định/Thỏa thuận TTTP hỗ trợ cơ quan tư pháp hai bên giải quyết các vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp và nhà nước.

3. Tăng cường công tác phối hợp liên ngành, đặc biệt là phối hợp giữa các cơ quan đầu mối Trung ương, trong tất cả các khâu công tác TTTP để trao đổi thông tin nhanh chóng và giải quyết kịp thời các yêu cầu tương trợ phức tạp, cần có sự thống nhất của liên ngành, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; nâng cao chất lượng công tác thông tin, thống kê, chia sẻ thông tin, dữ liệu về thực hiện UTTP; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động TTTP.

4. Các cơ quan thực hiện TTTP kiện toàn tổ chức, tiếp tục nâng cao nhận thức, năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác TTTP ở các Bộ, ngành và địa phương, nghiên cứu cải tiến quy trình làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin; tìm kiếm, thu hút sự hỗ trợ của các dự án hợp tác về pháp luật cho các hoạt động nghiên cứu, tập huấn nghiệp vụ TTTP; bố trí và tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động TTTP.

III. KIẾN NGHỊ

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, Chính phủ xin kiến nghị:

1. Các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội khác quan tâm, tăng cường giám sát việc thi hành pháp luật về tương trợ tư pháp, đặc biệt là các quy định mới có liên quan tại Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính và thực thi các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, trong đó có Công ước tống đạt.

2. Các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội ủng hộ đề xuất sớm sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp. Việc đề xuất phạm vi, nội dung, phương thức sửa đổi đối với đạo Luật này sẽ được Chính phủ nghiên cứu, xem xét và thực hiện theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

3. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục tăng cường chỉ đạo và triển khai có hiệu quả các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp luật trong nước trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự.

4. Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục chỉ đạo triển khai có hiệu quả kế hoạch thực thi Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại trong toàn ngành; tăng cường đôn đốc, nhắc nhở các Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài; kiểm tra và chỉ đạo hoạt động công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án, phán quyết trọng tài nước ngoài đảm bảo thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và cam kết quốc tế có liên quan; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong hoạt động tương trợ tư pháp và công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của toà án, phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Trên đây là Báo cáo về hoạt động tương trợ tư pháp năm 2017, Chính phủ xin kính trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến./.

Nơi nhận:

- Như trên;

- Ban Bí thư Trung ương Đảng (để b/c) ;

- TTg, các PTTg (để b/c);

- Ban Nội chính Trung ương;

- Văn phòng Trung ương Đảng;

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;

- Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Các Bộ: CA, NG, TP(2b);

- VPCP: BTCN, các PCN,

các Vụ: TH, QHQT, NC, QHĐP, TKBT;

- Lưu: VT, PL (3b).

 

TM. CHÍNH PHỦ

TUQ. THỦ TƯỚNG

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Đã ký

Lê Thành Long

Lượt xem: 36

Trang thông tin điện tử tương trợ tư pháp

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượt truy cập:

Địa chỉ: 262 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Cán bộ phụ trách: Lê Mạnh Hùng - Chức vụ: Phó Vụ trưởng
Điện thoại: +84.24.376.230.36; 0976437814
Email: phapluatquocte@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Trang TTĐT Tương trợ tư pháp - Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ tttp.toaan.gov.vn.

ácdscv