Skip to main content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

-------------

Số: 261/TANDTC-HTQT

V/v tổng kết 10 năm thi hành tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định của Luật tương trợ tư pháp

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2018

Kính gửi: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Phúc đáp Công văn số 2117/VKSTC-V13 ngày 28/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ tương trợ tư pháp về hình sự tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật tương trợ tư pháp như sau:

Luật tương trợ tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2008 (Luật TTTP năm 2007). Luật TTTP năm 2007 gồm 72 điều, được chia thành 7 chương; trong đó, nội dung tương trợ tư pháp về hình sự và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự được quy định tại Chương III và Chương VI của Luật này.

Kết quả tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành các quy định tương trợ tư pháp về hình sự tại Tòa án nhân dân cho thấy Luật TTTP năm 2007 đã xác lập cơ sở pháp lý quan trọng trong nước cho việc tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài về đấu tranh phòng, chống tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nhằm thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như với các nước khác theo nguyên tắc có đi có lại trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đạt được, Luật TTTP năm 2007 cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần sớm được khắc phục thông qua việc xây dựng, ban hành Luật tương trợ tư pháp về hình sự để nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác tương trợ tư pháp về hình sự trước yêu cầu và đòi hỏi của tình hình mới. Cụ thể như sau:

I. Kết quả thực hiện Luật TTTP năm 2007 tại Tòa án nhân dân

1. Công tác chỉ đạo, tuyên truyền, phổ biến Luật TTTP năm 2007 và hoàn thiện thể chế, pháp luật

Ngay sau khi Luật TTTP năm 2007 được thông qua và trong các năm tiếp theo, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các công văn, chỉ thị yêu cầu Tòa án nhân dân các cấp tổ chức quán triệt Luật TTTP năm 2007 và văn bản hướng dẫn thi hành Luật này để bảo đảm áp dụng thống nhất trong công tác tương trợ tư pháp về hình sự. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã lồng ghép nội dung tập huấn về Luật TTTP năm 2007 và văn bản hướng dẫn thi hành Luật này vào trong các hội nghị tập huấn văn bản quy phạm pháp luật; biên soạn tài liệu, giáo trình giảng dạy về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự tại cơ sở bồi dưỡng, đào tạo của Tòa án nhân dân tối cao.

Trên cơ sở chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao và căn cứ trách nhiệm của mình, Tòa án nhân dân các cấp đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật TTTP năm 2007 tại từng đơn vị nên đã tạo được sự chuyển biến mạnh trong nhận thức về vai trò, vị trí của Tòa án trong hoạt động tương trợ tư pháp nói chung, tương trợ tư pháp về hình sự nói riêng.

Cùng với đó, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc của Tòa án nhân dân tối cao làm tốt công tác tham mưu, phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao với các bộ, ngành liên quan trong rà soát văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự để phục vụ công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật trong lĩnh vực này. Cụ thể, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao cùng xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG ngày 16 tháng 8 năm 2013 “Hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự”. Đây là văn bản hướng dẫn hết sức quan trọng, cụ thể hóa quy định của Luật TTTP năm 2007 về việc cơ quan tiến hành tố tụng chuyển hồ sơ vụ án hình sự đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội là người nước ngoài đang có mặt trên lãnh thổ nước đó sau khi nước này từ chối yêu cầu dẫn độ của Việt Nam.

2. Công tác phối hợp góp ý, đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài

Bên cạnh việc triển khai có hiệu quả công tác chỉ đạo phổ biến, tuyên truyền Luật TTTP năm 2007 và văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, Tòa án nhân dân tối cao cũng hết sức chú trọng đến công tác phối hợp góp ý, đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài.

Trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay, có thể thấy rằng hoạt động đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp song phương về hình sự có những bước tiến đáng ghi nhận về cả số lượng và chất lượng các hiệp định được đàm phán, ký kết. Nhiều hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự đã được đề xuất đàm phán, tiến hành đàm phán, ký kết với các nước như: In-đô-nê-xi-a, Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma, U-dơ-bê-ki-xtan, Ca-dắc-xtan, Nhật Bản, Pháp, I-ta-li-a, Séc, Nam Phi, Xlô-va-ki-a, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai Len, Ô-xtơ-rây-li-a, Hung-ga-ri, Tây-ban-Nha, Cu Ba, An-giê-ri, Mô-dăm-bích, I-ran, I-xra-en. Trong đó, các hiệp định mà Việt Nam ký với từng nước: Ô-xtơ-rây-li-a, Tây-ban-Nha, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a, và An-giê-ri đã có hiệu lực pháp luật.

Kết quả nêu trên phản ánh sự nỗ lực của các cơ quan trung ương về công tác điều ước quốc tế, trong đó có phần đóng góp quan trọng, tích cực của Viện kiểm sát nhân dân tối cao với vai trò là cơ quan đề xuất đàm phán, ký kết điều ước quốc tế. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chuẩn bị tốt chủ trương đàm phán hiệp định thông qua việc xây dựng và đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận về việc sử dụng Hiệp định mẫu tương trợ tư pháp về hình sự để soạn thảo dự thảo hiệp định. Cùng với đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã xây dựng được kế hoạch, phương án đàm phán hiệp định cụ thể, chi tiết với từng nước để đạt được kết quả tốt nhất.

Trong quá trình đó, Tòa án nhân dân tối cao đã tích cực đóng góp ý kiến bằng văn bản vào dự thảo hiệp định hoặc cử cán bộ có năng lực tham gia các đoàn đàm phán về hiệp định giữa Việt Nam với nước ngoài. Về cơ bản, các văn bản đóng góp ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao có chất lượng tốt, là một trong những cơ sở để Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải trình, chỉnh lý, hoàn thiện phương án đàm phán trước khi tiến hành đàm phán hiệp định.

Tựu trung lại, có thể nhận thấy trong thời gian vừa qua công tác điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự đã được quan tâm, chú trọng, thể hiện được sự cố gắng, trách nhiệm của các cơ quan trung ương. Theo đó, đã có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời giữa cơ quan chủ trì với các cơ quan khác trong việc đề xuất đàm phán, góp ý dự thảo hiệp định, phương án đàm phán hiệp định. Từ đó, công tác đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với nước ngoài đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Các hiệp định đã được ký kết cũng như đã có hiệu lực trong thời gian vừa qua sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ công tác hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự với nước ngoài cũng như hỗ trợ công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam ngày càng có hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới.

3. Công tác quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự theo quy định của Luật TTTP năm 2007

Trên cơ sở xác định hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần phải được thực hiện có hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng công tác xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Tòa án nhân dân tối cao đã có sự quan tâm thích đáng đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Theo đó, hàng năm, Tòa án nhân dân tối cao đều tăng cường công tác chỉ đạo tuyên truyền, phổ biến pháp luật để Tòa án các cấp thống nhất trong nhận thức và bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật trong nước, các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự mà Việt Nam là thành viên.

Cùng với đó, để bảo đảm hiệu quả, chất lượng công tác quản lý nhà nước trong tương trợ tư pháp về hình sự, Tòa án nhân dân tối cao đã chú trọng phát triển nguồn nhân lực, củng cố, hoàn thiện bộ máy giúp việc, giao Vụ Hợp tác quốc tế là đơn vị đầu mối của Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tham mưu cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong lĩnh vực này. Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu của Tòa án nhân dân tối cao phần lớn là các công chức được đào tạo chính quy tại các trường đại học luật ở trong nước và ở nước ngoài, thông thạo ngoại ngữ, nắm vững các quy định của pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên.

Song song với đó, để tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp nói chung, tương trợ tư pháp về hình sự nói riêng và các công tác khác có liên quan như: xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đang hoàn thiện Trang thông tin điện tử về tương trợ tư pháp trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao. Trang thông tin điện tử về tương trợ tư pháp được xây dựng bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh với nhiều chuyên mục khác nhau, trong đó có các chuyên mục đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, điều ước quốc tế song phương, đa phương theo từng lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự; dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Với trang thông tin điện tử này, Tòa án các cấp, người dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị có quan tâm đều có thể truy cập miễn phí khi muốn tìm hiểu quy định của pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để nâng cao nhận thức, phục vụ nhu cầu công tác, học tập của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Đồng thời với việc xây dựng Trang thông tin điện tử về tương trợ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao cũng đang tiến hành xây dựng phần mềm quản lý nghiệp vụ về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn công tác chỉ đạo, điều hành, thống kê, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc các hoạt động này tại Tòa án nhân dân trong thời gian tới.

II. Một số hạn chế, bất cập, khó khăn của công tác tương trợ tư pháp về hình sự tại Tòa án nhân dân

Bên cạnh những thành công, kết quả đã đạt được, sau 10 năm thi hành, quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự của Luật TTTP năm 2007 cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Cùng với đó, trên thực tế, công tác này tại Tòa án cũng phát sinh một số khó khăn khi thực hiện. Cụ thể như sau:

1. Hạn chế, bất cập của Luật TTTP năm 2007

1.1. Luật TTTP năm 2007 không có quy định về trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành thủ tục tương trợ tư pháp về hình sự dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng thống nhất pháp luật

Chương III của Luật TTTP năm 2007 quy định cả về trình tự, thủ tục cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam yêu cầu ủy thác tư pháp cho nước ngoài và trình tự, thủ tục cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tiếp nhận, thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài.

Qua nghiên cứu, thì thấy rằng những quy định tại Chương III nêu trên còn mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, chi tiết đến mức có thể áp dụng thống nhất trên thực tế. Do đó, để áp dụng đúng các quy định của Luật TTTP năm 2007 về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự, thì cần phải có văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, ngoài quy định tại khoản 2 Điều 28, thì Luật TTTP năm 2007 không có quy định nào khác giao Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan hướng dẫn thủ tục tương trợ tư pháp về hình sự. Từ đó, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa đạt được sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng các quy định của Luật này về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự trên thực tế. Nếu hạn chế này không được sớm khắc phục, thì về lâu dài sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công tác tương trợ tư pháp về hình sự.

1.2. Quy định của Luật TTTP năm 2007 về ngôn ngữ lập hồ sơ ủy thác tư pháp trong lĩnh vực hình sự còn bất cập

Theo quy định tại Điều 5 Luật TTTP năm 2007, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài đã có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, thì ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp là ngôn ngữ được quy định trong điều ước quốc tế đó. Nếu giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận. Tuy nhiên, ngoài quy định nêu trên, Luật TTTP năm 2007 không có quy định khác đòi hỏi phía nước ngoài khi yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự cho Việt Nam, thì hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp phải có bản dịch ra tiếng Việt kèm theo. Việc này đã và đang gây khó khăn cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như các cơ quan khác được giao thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài. Bởi lẽ, trên thực tế, phía nước ngoài thường gửi hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp cho Việt Nam bằng tiếng nước ngoài; trong khi đó, Luật TTTP năm 2007 lại không quy định cơ quan cụ thể nào của Việt Nam có trách nhiệm dịch ra tiếng Việt hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài. Nếu Viện kiểm sát nhân dân tối cao tự dịch hồ sơ, thì về lâu dài, cơ quan này cũng không đủ khả năng và nguồn lực để thực hiện. Ngược lại, nếu thuê các tổ chức dịch thuật ở trong nước để dịch hồ sơ, thì không an toàn về bảo mật thông tin và trong nhiều trường hợp cũng không bảo đảm được chất lượng dịch thuật hồ sơ. Từ đó, sẽ ảnh hưởng đến việc xem xét, chấp nhận hay từ chối thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài.

1.3. Luật TTTP năm 2007 phân công cơ quan thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài chưa cụ thể, rõ ràng

Trên phương diện pháp lý, yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài cho Việt Nam rất khác nhau, bao gồm: tống đạt tài liệu, giấy tờ; thu thập, cung cấp chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người giám định; trao đổi thông tin…Tuy nhiên, Luật TTTP năm 2007 không có quy định giao cho từng cơ quan: Tòa án cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp tỉnh và cơ quan điều tra thực hiện tương ứng loại yêu cầu ủy thác tư pháp cụ thể nào để thuận tiện cho việc triển khai trên thực tế.

Thay vào đó, Điều 64, 68, 69 và 70 Luật TTTP năm 2007 chỉ quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các ủy thác tư pháp về hình sự; xem xét, quyết định việc thực hiện và yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự theo thẩm quyền. Tòa án cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp tỉnh và cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện ủy thác tư pháp của nước ngoài theo quy định của Luật này.

Như vậy, có thể thấy rằng nếu Luật TTTP năm 2007 có thêm quy định về phân công trách nhiệm cụ thể cho Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan điều tra đối với từng loại yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài trên cơ sở nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi cơ quan, thì sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển giao yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài cho từng cơ quan nêu trên để thực hiện.

1.4. Luật TTTP năm 2007 không có quy định về công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan khác làm ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước của Tòa án nhân dân tối cao trong lĩnh vực này

Luật TTTP năm 2007 quy định về trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong công tác tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù chưa tương xứng với nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao. Theo quy định tại Điều 63 Luật này, thì Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm:

(i) Hướng dẫn Tòa án các cấp thực hiện tương trợ tư pháp;

(ii) Xem xét, quyết định các yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo thẩm quyền;

(iii) Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ Tư pháp tình hình thực hiện tương trợ tư pháp thuộc thẩm quyền.

Ngoài ba nhiệm vụ nêu trên, Luật TTTP năm 2007 không có quy định khác về trách nhiệm phối hợp của Tòa án nhân dân tối cao đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong công tác tương trợ tư pháp về hình sự, dân sự, xem xét yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Từ đó, trên thực tế, khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự, yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù cho Tòa án cấp tỉnh thực hiện, thì Tòa án nhân dân tối cao không được các cơ quan này thông báo để có thể phối hợp xử lý những yêu cầu phức tạp hoặc kịp thời hỗ trợ, cung cấp thông tin, điều ước quốc tế liên quan để Tòa án cấp tỉnh thực hiện. Tình hình đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Tòa án cấp tỉnh cũng như công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện của Tòa án nhân dân tối cao đối với Tòa án cấp tỉnh trong các lĩnh vực này.

1.5. Quy định của Luật TTTP năm 2007 về việc dẫn độ người có hành vi phạm tội chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tương trợ tư pháp về hình sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật TTTP năm 2007, thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể:

(i) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài dẫn độ cho Việt Nam người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án;

(ii) Thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.

Từ quy định này của Luật TTTP năm 2007, Việt Nam hoặc nước ngoài chỉ có thể yêu cầu lẫn nhau dẫn độ người có hành vi phạm tội để phục vụ một trong hai mục đích: truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người bị yêu cầu dẫn độ. Trong khi đó, trên thực tế, có một số trường hợp mà Việt Nam hoặc nước ngoài đều mong muốn dẫn độ người người có hành vi phạm tội để phục vụ cả hai mục đích nêu trên. Tuy nhiên, do bị hạn chế bởi quy định nêu trên của Luật TTTP năm 2007, nên Việt Nam hoặc nước ngoài đã giải quyết theo hướng: trước hết, nước này phải yêu cầu nước kia dẫn độ đối tượng để thi hành án; sau khi thực hiện xong việc dẫn độ, thì mới tiếp tục yêu cầu nước kia đồng ý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã bị dẫn độ.

Trên thực tế, trường hợp này đã xảy ra tại Việt Nam, theo đó, ban đầu phía nước ngoài yêu cầu Việt Nam dẫn độ đối tượng để thi hành án; sau khi được Việt Nam đồng ý dẫn độ, thì nước đó tiếp tục yêu cầu Việt Nam cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự người đã bị dẫn độ về một tội phạm cụ thể. Hồ sơ yêu cầu được chuyển cho Tòa án cấp tỉnh đã ra quyết định dẫn độ để xem xét. Tuy nhiên, theo quy định của Luật TTTP năm 2007, thì Tòa án cấp tỉnh không có thẩm quyền xem xét yêu cầu của nước ngoài về việc đồng ý cho nước đó truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã bị Tòa án Việt Nam ra quyết định dẫn độ nếu yêu cầu này phát sinh trước yêu cầu dẫn độ hoặc sau khi yêu cầu dẫn độ đã được xem xét. Bởi lẽ, yêu cầu Việt Nam đồng ý để nước ngoài truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Vì vậy, trong trường hợp cụ thể này, đáng lẽ hồ sơ yêu cầu của nước ngoài phải được chuyển đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết mới đúng thẩm quyền quy định tại Điều 17 và Điều 64 Luật TTTP năm 2007.

Như vậy, có thể thấy rằng quy định tại Điều 32 Luật TTTP năm 2007 chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam và nước ngoài trong việc yêu cầu dẫn độ người phạm tội để phục vụ cả hai mục đích: thi hành án và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị yêu cầu dẫn độ. Đồng thời, quy định này cũng tạo ra cách hiểu không thống nhất về thẩm quyền xem xét yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự của nước ngoài đối với người đã bị Tòa án Việt Nam dẫn độ theo yêu cầu của nước ngoài.

1.6. Quy định của Luật TTTP năm 2007 về quy trình ủy thác tư pháp về hình sự còn chưa thực sự hiệu quả dẫn đến mất nhiều thời gian gửi hồ sơ và chờ kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp

Qua nghiên cứu, thì thấy rằng yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài được thực hiện theo một trong hai quy trình sau đây:

- Quy trình ủy thác tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự

+ Quy trình ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu ủy thác tư pháp – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Cơ quan trung ương của nước được yêu cầu – Cơ quan thực hiện của nước được yêu cầu.

+ Quy trình chuyển kết quả thực hiện về Việt Nam: Cơ quan thực hiện – Cơ quan trung ương của nước được yêu cầu – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Cơ quan tiến hành tố tụng đã yêu cầu ủy thác.

+ Quy trình nước ngoài ủy thác tư pháp cho Việt Nam: Cơ quan trung ương có thẩm quyền của nước yêu cầu – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Cơ quan thực hiện yêu cầu.

+ Quy trình chuyển kết quả thực hiện cho nước yêu cầu: Cơ quan thực hiện yêu cầu – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Cơ quan trung ương có thẩm quyền của nước được yêu cầu.

- Quy trình ủy thác tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài theo nguyên tắc có đi có lại

+ Quy trình ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu ủy thác tư pháp – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Ngoại giao – Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao nước được yêu cầu – Cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu – Cơ quan thực hiện;

+ Quy trình chuyển kết quả thực hiện về Việt Nam: Cơ quan thực hiện – Cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu – Bộ Ngoại giao của nước được yêu cầu – Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước được yêu cầu – Bộ Ngoại giao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Cơ quan tiến hành tố tụng đã yêu cầu ủy thác tư pháp.

+ Quy trình nước ngoài ủy thác tư pháp cho Việt Nam: Bộ Ngoại giao của nước yêu cầu – Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước yêu cầu – Bộ Ngoại giao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Cơ quan thực hiện yêu cầu.

+ Quy trình chuyển kết quả thực hiện cho nước yêu cầu: Cơ quan thực hiện yêu cầu – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Ngoại giao – Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước yêu cầu – Bộ Ngoại giao nước yêu cầu.

Như vậy, có thể thấy rằng việc yêu cầu, thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự theo một trong hai quy trình ủy thác tư pháp trên đây mất rất nhiều thời gian, đặc biệt là yêu cầu ủy thác tư pháp theo nguyên tắc có đi có lại. Tình trạng này chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân sau đây: (i) Hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp, hồ sơ thông báo kết quả thực hiện đều được lập bằng văn bản giấy; (ii) Các hồ sơ này phải chuyển qua một số cơ quan trung gian; (iii) Thời gian thực hiện yêu cầu phụ thuộc vào pháp luật và cách thức thực hiện của từng nước được yêu cầu. Trên thực tế, thời gian ủy thác tư pháp ra nước ngoài, tính từ khi cơ quan có yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam lập hồ sơ đến khi cơ quan này nhận được kết quả ủy thác tư pháp là khá dài, trung bình từ 5 đến 6 tháng nếu là yêu cầu ủy thác tống đạt văn bản tố tụng; chưa kể, đối với các yêu cầu thu thập chứng cứ, thì thời gian này còn dài hơn nữa.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng hạn chế về quy trình ủy thác tư pháp xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, chủ yếu là do tại thời điểm xây dựng Luật TTTP năm 2007, thì cơ quan soạn thảo Luật này không có nhiều thông tin về pháp luật nước ngoài – những nước chấp nhận hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp cũng như chấp nhận trả kết quả thực hiện bằng hồ sơ văn bản điện tử. Từ đó, Luật TTTP năm 2007 đã không có quy định theo hướng hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp và kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp có thể gửi và tiếp nhận bằng hồ sơ văn bản giấy hoặc bằng hồ sơ văn bản điện tử.

Bên cạnh đó, đối với yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo nguyên tắc có đi có lại, thực tiễn cho thấy việc gửi hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ kết quả thực hiện thông qua cơ quan trung gian (Bộ Ngoại giao) là không cần thiết. Bởi lẽ, trong quy trình này, Bộ Ngoại giao chỉ thực hiện công việc đơn thuần là nhận hồ sơ và chuyển tiếp hồ sơ. Trong khi đó, nếu Luật TTTP năm 2007 có quy định theo hướng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền chuyển thẳng cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan đại diện chuyển thẳng hồ sơ kết quả thực hiện cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà không qua Bộ Ngoại giao đối với yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo nguyên tắc có đi có lại, thì sẽ tiết kiệm được cả thời gian, ngân sách, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ tốt hơn các quy định về thời hạn tố tụng hình sự.

2. Khó khăn phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật TTTP năm 2007

Theo quy định của BLTTHS năm 2015, thì Tòa án phải tống đạt văn bản tố tụng (quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo triệu tập tham gia phiên tòa, bản án, quyết định của Tòa án…) cho người bị hại, đương sự; cấp bản sao bản án hoặc trích lục bản án về những phần có liên quan cho đương sự hoặc người đại diện của họ, kể cả trường hợp những người này cư trú ở nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến nay do chưa có văn bản hướng dẫn thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài về hình sự nên có một số Tòa án lúng túng khi lập hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp loại này. Theo đó, các Tòa án không có thông tin về tên, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ quan của nước được yêu cầu ủy thác tư pháp, ngôn ngữ dịch hồ sơ là ngôn ngữ nào; không có biểu mẫu văn bản để tham khảo, đặc biệt là mẫu văn bản yêu cầu ủy thác tư pháp…để thực hiện đúng quy định về hồ sơ ủy thác tư pháp tại Điều 18 19 của Luật TTTP năm 2007.

Đối với việc thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài như tống đạt bản án cho người cư trú tại Việt Nam, thì cũng phát sinh một số khó khăn, chủ yếu là do họ tên, địa chỉ cư trú người nhận thường ghi không có dấu, không đầy đủ thông tin cụ thể đến tận tổ, thôn, xóm nên việc xác minh họ tên, địa chỉ của người nhận hết sức khó khăn, mất nhiều thời gian, có trường hợp không thể xác định được.

Việc thực hiện công tác ủy thác tư pháp về hình sự ra nước ngoài cũng như thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài phải sử dụng đến kinh phí nhà nước. Tuy nhiên, cho đến nay các Tòa án không được cấp kinh phí để thực hiện. Từ đó, một mặt, gây khó khăn cho công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi giải quyết, xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài; mặt khác, có thể dẫn đến việc nước ngoài áp dụng nguyên tắc có đi có lại với Việt Nam với lý do Việt Nam chưa thực sự tận tâm trong việc hỗ trợ nước ngoài thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự.

3. Đánh giá tính tương thích giữa quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 với quy định của Luật TTTP năm 2007

Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài (tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ…) thực chất là hoạt động tố tụng hình sự mà nước ngoài hoặc Việt Nam thực hiện cho nhau trên cơ sở yêu cầu ủy thác tư pháp của nước này cho nước kia. Trên tinh thần đó, Luật TTTP năm 2007 là công cụ pháp lý hết sức quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một số hoạt động tố tụng hình sự theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trước đây cũng như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) hiện nay. Đồng thời, Luật TTTP năm 2007 là cơ sở pháp lý để tiếp nhận, giải quyết các yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài phù hợp với quy định của hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự mà nước đó và Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Xét trên phương diện giải quyết vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài của các cơ quan tiến hành tố tụng trong nước, thì Luật TTTP năm 2007 và BLTTHS năm 2015 có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau; trong đó, Luật TTTP năm 2007 là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng lập, gửi yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài với mục đích tống đạt văn bản tố tụng hoặc thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTHS năm 2015. Như vậy, có thể thấy rằng ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ là đặc thù riêng của hoạt động điều tra, truy tố và xét xử loại vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Do đó, quy định của Luật TTTP năm 2007 có tác động không nhỏ đến công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án có yếu tố nước ngoài theo quy định của BLTTHS năm 2015. Mặc dù vậy, quy định của BLTTHS năm 2015 lại chưa thể hiện được sự đặc thù của loại vụ án này trên các phương diện quan trọng như: thời hạn tố tụng và xử lý kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

Qua xem xét, thì thấy rằng thời gian thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự chưa được tính vào thời hạn điều tra, truy tố và xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án hình sự tại Bộ luật này. Hiện nay, thời hạn điều tra, truy tố và xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án hình sự tại BLTTHS năm 2015 vẫn được áp dụng chung, không phân biệt vụ án hình sự có hay không có người tham gia tố tụng ở nước ngoài hoặc phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Đây chính là hạn chế của BLTTHS năm 2015, mà trong tương lai, hạn chế này sẽ tạo sức ép rất lớn đến hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; đồng thời, cũng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng ở nước ngoài khi loại vụ án này phát sinh trên thực tế.

Ví dụ: theo quy định tại khoản 3 Điều 277, khoản 1 Điều 286 và 287 BLTTHS năm 2015, thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày. Quyết định đưa vụ án ra xét xử được gửi cho đương sự chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa. Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, yêu cầu của Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa.

Nếu áp dụng các quy định nêu trên của BLTTHS năm 2015 cho vụ án hình sự có người bị hại ở nước ngoài và thời hạn mở phiên tòa được ấn định là 30 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì trong nhiều trường hợp, người bị hại khó có thể nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và có mặt tại phiên tòa đúng thời hạn ghi trong giấy triệu tập của Tòa án. Bởi lẽ, với quy trình ủy thác tư pháp ra nước ngoài mất rất nhiều thời gian, qua nhiều khâu trung gian như đã phân tích ở phần trên, thì thời hạn 30 ngày là quá ngắn, không đủ cho Tòa án thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến phiên tòa cho người bị hại và nhận được kết quả thực hiện yêu cầu đó.

Bên cạnh đó, trên thực tế có thể phát sinh trường hợp hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp của Tòa án bị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trả lại với nhiều lý do khác nhau, bao gồm:

(i) Hồ sơ tống đạt văn bản tố tụng cho người bị hại là người nước ngoài không hợp lệ do chất lượng dịch thuật kém, không hiểu được yêu cầu ủy thác tư pháp;

(ii) Khi nhận được hồ sơ, thì thời hạn mở phiên tòa đã hết hoặc thời gian còn lại tính đến ngày mở phiên tòa không đủ cho người bị hại chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hình sự của họ tại Tòa án Việt Nam.

Cùng với đó, trong trường hợp đến ngày mở phiên tòa mà Tòa án không nhận được kết quả ủy thác tư pháp, thì Tòa án phải căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 281 BLTTHS năm 2015 để ra quyết định tạm đình chỉ vụ án với lý do chưa nhận được kết quả ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Sau đó, nếu nhận được kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp, thì Tòa án phải ra quyết định phục hồi vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 283 BLTTHS năm 2015 và tiếp tục yêu cầu ủy thác tư pháp để tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập người bị hại tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, với thời hạn tối đa để mở phiên tòa là 30 ngày như quy định của BLTTHS năm 2015 nêu trên, khả năng lớn là Tòa án lại phải tiếp tục tạm đình chỉ vụ án với lý do chờ kết quả ủy thác tư pháp ra nước ngoài mà không thể mở phiên tòa đúng hạn.

Bên cạnh đó, thì quy định của BLTTHS năm 2015 về thời hạn kháng cáo, thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm, thời hạn gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm cho người bị hại, đương sự, người kháng cáo cũng bộc lộ hạn chế, bất cập tương tự quy định tại Tòa án cấp sơ thẩm. Theo đó, các thời hạn về kháng cáo, mở phiên tòa phúc thẩm, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử là quá ngắn, không đủ để yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài cho một trong các đương sự ở nước ngoài để họ thực hiện quyền kháng cáo, tham gia phiên tòa phúc thẩm. Cụ thể, theo quy định khoản 3 và 4 Điều 346 BLTTHS năm 2015, thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm. Chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

Như vậy, có thể thấy rằng với quy định như trên của BLTTHS năm 2015, thì sẽ rất khó khăn để Tòa án có thể mở phiên tòa xét xử theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự đúng thời hạn khi người bị hại hoặc đương sự, người kháng cáo cư trú ở nước ngoài có khả năng không nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập ra phiên tòa hoặc khi họ nhận được các văn bản này thì không đủ thời gian để có mặt đúng ngày mở phiên tòa tại Tòa án Việt Nam.

Song song với đó, BLTTHS năm 2015 cũng không có quy định về xử lý kết quả ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tiếp tục giải quyết vụ án hình sự có người tham gia tố tụng ở nước ngoài hoặc phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Cụ thể, Điều 229, 247 và 281 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định cơ quan tiến hành tố tụng được quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án với lý do thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử đã hết mà chưa nhận được kết quả ủy thác tư pháp ra nước ngoài và cho phép việc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả. Tuy nhiên, Bộ luật này không dự kiến các trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết như thế nào khi yêu cầu ủy thác tư pháp không thực hiện được hoặc bị từ chối thực hiện hoặc phía nước ngoài không trả lời về kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam. Ví dụ: Bộ luật này không có quy định cách thức giải quyết các trường hợp sau đây:

- Yêu cầu nước ngoài thu thập chứng cứ bị nước ngoài từ chối thực hiện hoặc được trả lời là không thể thu thập được chứng cứ theo yêu cầu;

- Yêu cầu nước ngoài tống đạt văn bản tố tụng bị nước ngoài từ chối thực hiện hoặc được trả lời là không thực hiện được với lý do người cần được tống đạt đã không còn cư trú tại địa chỉ tống đạt và chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới hoặc họ tên, địa chỉ người này thiếu chi tiết để thực hiện.

Cùng với đó, khi tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại một trong các điều: 229, 247 hoặc 281 BLTTHS năm 2015, thì cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết cả vấn đề tạm giam bị can, bị cáo có liên quan trực tiếp đến yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài nếu bị can, bị cáo bị tạm giam. Trong khi đó, một mặt, cơ quan tiến hành tố tụng cũng không có căn cứ pháp lý để khẳng định tất cả các yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài về hình sự của Việt Nam đều được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện; mặt khác, cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể xác định được chính xác thời gian cụ thể sẽ nhận được kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài vì yêu cầu đó được thực hiện theo quy định pháp luật của nước được yêu cầu. Có thể xảy ra những trường hợp mà yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài về hình sự không được thực hiện nhưng cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không cho biết lý do, đặc biệt là đối với các yêu cầu được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại. Đối với những trường hợp này, việc cơ quan tiến hành tố tụng nhận được kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí, tận tâm của nước được yêu cầu. Mặc dù vậy, BLTTHS năm 2015 lại không có quy định về việc gia hạn tạm giam trong thời gian cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài mà chưa nhận được kết quả thực hiện yêu cầu này. Đây là trường hợp hết sức phức tạp cho cơ quan tiến hành tố tụng nếu phát sinh trên thực tế, theo đó, việc cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn giải quyết vấn đề này theo hướng thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác hay vẫn tiếp tục tạm giam cho đến khi có kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài là không hề đơn giản, đặc biệt trong trường hợp không có căn cứ để thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác đối với bị can, bị cáo. Nói cách khác, trong trường hợp này, nếu tiếp tục tạm giam bị can, bị cáo, thì có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý chưa lường trước được; trong khi đó, việc thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác cũng có thể gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử, đặc biệt có thể dẫn đến việc bị can, bị cáo bỏ trốn.

III. Một số kiến nghị, đề xuất

1. Về công tác phối hợp quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự

Để bảo đảm công tác quản lý nhà nước vể tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự trong thời gian tới có sự chuyển biến tích cực, đạt hiệu quả tốt, Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao quan tâm một số nội dung sau đây:

- Định kỳ hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ ngoại giao tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn pháp luật trong nước, điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, hướng dẫn nghiệp vụ hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự cho các cán bộ thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp.

- Định kỳ 6 tháng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao tổ chức các cuộc họp để trao đổi thông tin, thảo luận, quyết định các biện pháp phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an nghiên cứu soạn thảo, ban hành biểu mẫu văn bản yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự ra nước ngoài, văn bản thông báo kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài để Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan điều tra thống nhất sử dụng.

- Khi gửi thông báo về việc hồ sơ ủy thác tư pháp đã chuyển ra nước ngoài (hoặc cho Bộ Ngoại giao) và kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp cho Tòa án đã có yêu cầu ủy thác tư pháp, thì đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi thêm thông báo này cho Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Hợp tác quốc tế) để Tòa án nhân dân tối cao có điều kiện cập nhật thông tin, phục vụ công tác chỉ đạo, hướng dẫn công tác tương trợ tư pháp về hình sự trong hệ thống Tòa án.

- Khi gửi văn bản đề nghị đóng góp ý kiến vào hồ sơ đề xuất đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và các văn bản khác liên quan đến công tác phối hợp về thực hiện điều ước quốc tế, giải quyết các yêu cầu cụ thể về tương trợ tư pháp của nước ngoài, thì đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi cho Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Hợp tác quốc tế) để thuận tiện cho công tác chỉ đạo, phân công thực hiện của Tòa án nhân dân tối cao.

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự trong thời gian tới

Qua kết quả tổng kết 10 năm thi hành Luật TTTP năm 2007 như đã nêu ở trên, Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy việc tách nội dung của Luật này để xây dựng thành các Luật riêng tương ứng với từng lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự; xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và chủ trương đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế của Việt Nam đối với từng lĩnh vực nêu trên.

Trên tinh thần đó, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng đối với dự án Luật tương trợ tư pháp về hình sự, thì một số vấn đề sau đây cần phải được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết trong dự án Luật này:

- Luật tương trợ tư pháp về hình sự phải khắc phục được những bất cập, hạn chế về quy trình ủy thác tư pháp ra nước ngoài và quy trình thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài về hình sự của Luật TTTP năm 2007. Cụ thể như sau:

+ Đối với quy trình yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo nguyên tắc có đi có lại, thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao được quyền gửi hồ sơ yêu cầu ủy thác cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và nhận kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp từ cơ quan này mà không cần thông qua Bộ Ngoại giao;

+ Đối với hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam và nước ngoài, thì có thể được lập bằng văn bản giấy và văn bản điện tử. Trong đó, văn bản điện tử có thể là văn bản tố tụng cần được tống đạt hoặc tài liệu, giấy tờ, lời khai cần được thu thập. Phương thức lập, gửi hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp bằng hồ sơ văn bản điện tử được áp dụng đối với những nước chấp nhận phương thức này.

+ Cần có quy định về trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan trung ương trong công tác tương trợ tư pháp về hình sự để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

+ Cần có quy định giao Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan để quy định cụ thể về trình tự, thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự.

+ Cần quy định rõ khi yêu cầu ủy thác tư pháp cho Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại, thì số lượng hồ sơ mà cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cần phải gửi cho Việt Nam là 03 bộ hồ sơ. Trong đó, hồ sơ phải có bản dịch ra tiếng Việt hoặc phải lập bằng ngôn ngữ phổ biến như: tiếng Anh hoặc tiếng Pháp để thuận tiện cho việc dịch thuật.

+ Cần quy định rõ cơ quan có trách nhiệm dịch hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài ra tiếng Việt để hạn chế việc hồ sơ được chuyển đi chuyển lại giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao với các cơ quan thực hiện yêu cầu.

Ngoài những nội dung nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao quan tâm, nghiên cứu và có phương án, giải pháp xử lý những hạn chế, bất cập của BLTTHS năm 2015 về các vấn đề liên quan đến thủ tục điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự có đương sự ở nước ngoài hoặc phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài để bảo đảm sự tương thích giữa Bộ luật này với dự án Luật tương trợ tư pháp về hình sự.

Trên đây, là kết quả tổng kết thực tiễn thi hành 10 năm các quy định của Luật TTTP năm 2007 về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự để Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổng hợp.

Tòa án nhân dân tối cao trân trọng cảm ơn sự quan tâm, phối hợp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác./.

Nơi nhận:

- Như trên;

- Đ/c Chánh án TANDTC (để báo cáo);

- Lưu: VT, Vụ HTQT (TANDTC).

 

KT. CHÁNH ÁN

PHÓ CHÁNH ÁN

Đã ký

Nguyễn Thúy Hiền

Lượt xem: 48

Trang thông tin điện tử tương trợ tư pháp

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượt truy cập:

Địa chỉ: 262 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Cán bộ phụ trách: Lê Mạnh Hùng - Chức vụ: Phó Vụ trưởng
Điện thoại: +84.24.376.230.36; 0976437814
Email: phapluatquocte@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Trang TTĐT Tương trợ tư pháp - Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ tttp.toaan.gov.vn.

ácdscv