Skip to main content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

-------------

Số: 211/TANDTC-HTQT

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2017

THÔNG BÁO

VỀ CÔNG TÁC TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2017

Kính gửi: Bộ Tư pháp

Thực hiện quy định tại Điều 63 Luật tương trợ tư pháp 2008, Tòa án nhân dân tối cao thông báo đến Bộ Tư pháp kết quả thực hiện công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân năm 2017 (từ ngày 01/10/2016 đến ngày 15/9/2017) như sau:

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động tương trợ tư pháp

Trong năm 2017, công tác ủy thác tư pháp về dân sự tại Tòa án nhân dân có nhiều điểm mới về phương thức thực hiện. Theo đó, các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Tòa án nhân dân cấp cao (sau đây viết tắt là Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao) bắt đầu giảm áp dụng phương thức tống đạt giấy tờ ra nước ngoài theo con đường ngoại giao để chuyển sang thực hiện yêu cầu này theo phương thức ủy thác tư pháp quy định tại Công ước tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (sau đây viết tắt là Công ước tống đạt giấy tờ) đã được cụ thể hóa trong Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự (sau đây viết tắt là Thông tư liên tịch số 12/2016). Đồng thời, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao còn sử dụng thêm các phương thức ủy thác tư pháp ra nước ngoài được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài trong các trường hợp đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài hoặc đương sự có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam hoặc có người đại diện hợp pháp tại Việt Nam.

Để đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới đặt ra, ngày 21/02/2017 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 33/TANDTC-HTQT yêu cầu các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao tổ chức quán triệt Thông tư liên tịch số 12/2016; đồng thời hướng dẫn thêm về việc áp dụng thống nhất các quy định ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Song song với đó, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn đề nghị Bộ Ngoại giao chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Trên tinh thần nhất trí với ý kiến đề nghị của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao đã có Công văn số 829/BNG-LS ngày 14/3/2017 thông báo cho Bộ Tư pháp về việc Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao đã thống nhất chủ trương khi tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài, thì các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao sẽ gửi trực tiếp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài mà không gửi qua Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao như trước đây để giảm bớt thủ tục hành chính và cơ quan trung gian trong việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng.

2. Công tác tổ chức thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp

Cùng với hoạt động chỉ đạo, điều hành, để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật về ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi giải quyết các vụ việc dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức hướng dẫn trực tiếp nghiệp vụ công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài và cung cấp thêm thông tin liên quan trực tiếp đến việc thực thi Công ước tống đạt giấy tờ cho các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục chủ động phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo giới thiệu Công ước này cho Tòa án các cấp; bàn biện pháp tháo gỡ một số vướng mắc phát sinh từ thực tiễn ủy thác tư pháp về dân sự. Cùng với đó, Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục yêu cầu Tòa án các cấp tổ chức tổ chức tổng kết thực tiễn công tác này theo định kỳ 6 tháng hàng năm. Trên cơ sở kết quả báo cáo của Tòa án các cấp, Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng kế hoạch tổ chức 02 Lớp tập huấn về nghiệp vụ tương trợ tư pháp trong tháng 10 năm 2017 để tạo sự thống nhất chung về nhận thức và đào tạo kỹ năng nghiệp vụ thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp cho cán bộ, Thẩm phán của Tòa án cấp cao và Tòa án cấp tỉnh.

Trên cơ sở chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao và căn cứ trách nhiệm của mình, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã tổ chức quán triệt các quy định mới của pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự cho cán bộ, Thẩm phán theo từng đơn vị; kịp thời tiến hành lập hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi phát sinh yêu cầu từ vụ việc dân sự; tổ chức thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài ngay sau khi nhận được hồ sơ tư Bộ Tư pháp. Cho đến nay, công tác ủy thác tư pháp tại các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao cơ bản đã được triển khai thống nhất, nền nếp và đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 12/2016.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ

1. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định về quan hệ phối hợp trong công tác tương trợ tư pháp về dân sự

Ngay từ tháng đầu năm công tác 2017, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao để hoàn thiện dự thảo Thông tư liên tịch quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Trên cơ sở đó, ngày 19/10/2016, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao đã cùng ký ban hành Thông tư liên tịch này (Thông tư liên tịch số 12/2016). Thông tư liên tịch số 12/2016 có hiệu lực từ ngày 06/12/2016. Hiện nay, Thông tư liên tịch số 12/2016 đang được các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao áp dụng trong quá trình thực hiện công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

2. Công tác nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Luật tương trợ tư pháp 2008

Luật tương trợ tư pháp 2008 được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2008. Cho đến nay, sau hơn 9 năm thi hành, bên cạnh là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự, dân sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và nguyên tắc có đi có lại, thì Luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần phải được khắc phục bằng việc sửa đổi toàn diện.

2.1. Về các hạn chế, bất cập cơ bản của Luật tương trợ tư pháp 2008

2.1.1. Hạn chế, bất cập của các quy định tương trợ tư pháp về dân sự

Thứ nhất, quy định của Luật tương trợ tư pháp 2008 về cơ quan có thẩm quyền ủy thác tư pháp ra nước ngoài không thống nhất với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005 trước đây cũng như Bộ luật tố tụng dân sự 2015 hiện hành. Cụ thể, khoản 3 Điều 68 của Luật tương trợ tư pháp 2008 quy định chỉ có Tòa án cấp tỉnh mới được ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 35, Điều 471, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 474, Điều 475 và Điều 480 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thì ủy thác tư pháp ra nước ngoài là hoạt động tố tụng mà Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao bắt buộc phải thực hiện khi giải quyết vụ việc dân sự có đương sự ở nước ngoài hoặc phải thu thập chứng cứ ở nước ngoài. Theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thì Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ những vụ việc dân sự có đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài, thì thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh. Mặc dù vậy, để hạn chế việc kéo dài thời hạn tố tụng do phải chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết nếu một trong các bên đương sự không còn cư trú tại Việt Nam, Điều 471 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cho phép Tòa án cấp huyện tiếp tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã thụ lý đúng thẩm quyền kể cả trường hợp một trong các bên đương sự có sự thay đổi nơi cư trú (ra nước ngoài để cư trú, học tập, làm việc…). Như vậy, trong trường hợp này, Tòa án cấp huyện bắt buộc phải yêu cầu ủy thác tư pháp để tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài và thu thập chứng cứ ở nước ngoài để giải quyết vụ việc. Trong khi đó, quy định tại khoản 3 Điều 68 của Luật tương trợ tư pháp 2008 lại giới hạn phạm vi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài là Tòa án cấp tỉnh; dẫn đến việc Tòa án cấp huyện phải thông qua Tòa án cấp tỉnh để thực hiện yêu cầu này. Từ đó, quy trình thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án cấp huyện phải qua các khâu trung gian không cần thiết; ảnh hưởng trực tiếp đến thời hạn giải quyết vụ việc dân sự cũng như việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự ở trong nước và nước ngoài.

Như vậy, đáng lẽ khoản 3 Điều 68 của Luật tương trợ tư pháp 2008 chỉ nên quy định theo hướng cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài được xác định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thì sẽ bảo đảm được sự thống nhất giữa Luật này với Bộ luật tố tụng dân sự; tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án thực hiện các hoạt động tố tụng theo thẩm quyền khi việc giải quyết vụ việc dân sự mà có đương sự ở nước ngoài hoặc phải thu thập chứng cứ ở nước ngoài.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 16 Luật tương trợ tư pháp 2008 thì chi phí thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài do nước yêu cầu chi trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Tuy nhiên, trên thực tế quy định nêu trên chưa thể thực hiện được do không có quy định cụ thể về mức chi phí, cách thức thanh toán và cơ quan, tổ chức nào thu chi phí này. Vì vậy, từ khi Luật tương trợ tư pháp 2008 có hiệu lực đến nay, các Tòa án cấp tỉnh đã và đang thực hiện miễn phí hàng nghìn yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài. Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước tống đạt giấy tờ, thì việc Tòa án Việt Nam tiếp tục thực hiện miễn phí yêu cầu tương trợ tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không còn phù hợp. Bởi lẽ, hiện nay đã có 31 nước thành viên Công ước này tuyên bố thu chi phí thực hiện yêu cầu tống đạt giấy tờ khi nhận được yêu cầu tống đạt từ nước thành viên khác của Công ước. Đồng thời, từ nhiểu năm nay, các Tòa án cấp tỉnh không được Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Do đó, đa số các cán bộ Tòa án cấp tỉnh khi được giao nhiệm vụ phải sử dụng phương tiện giao thông cá nhân để thực hiện xác minh địa chỉ, tống đạt văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cho đương sự cư trú trên địa bàn phường, xã, huyện thuộc tỉnh. Với cách thức tiến hành như vậy, thì trước mắt cũng như về lâu dài, Tòa án cấp tỉnh không thể bảo đảm được chất lượng, thời gian và tiến độ thực hiện công tác này.

Thứ ba, Luật tương trợ tư pháp 2008 không quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực tố tụng hành chính. Trong khi đó, Luật tố tụng hành chính 2010 trước đây và Luật tố tụng hành chính 2015 hiện hành đều có quy định viện dẫn việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án khi giải quyết vụ án hành chính được thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp. Do đó, vấn đề này cần phải được khắc phục khi sửa đổi Luật tương trợ tư pháp 2008 để bảo đảm thuận lợi cho công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án khi giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài.

2.1.2. Hạn chế, bất cập của quy định tương trợ tư pháp về hình sự và dẫn độ

a) Về vấn đề cam kết không áp dụng án tử hình hoặc có áp dụng nhưng không được thi hành khi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự và yêu cầu dẫn độ

Vấn đề cam kết không áp dụng án tử hình hoặc có áp dụng nhưng không được thi hành khi yêu cầu dẫn độ đã được quy định tại một số hiệp định tương trợ tư pháp và hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và nước ngoài, bao gồm: Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Bê-la-rút (có hiệu lực từ ngày 18/10/2001), Nghị định thư bổ sung Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang Nga về tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự năm 1998 (có hiệu lực từ ngày 27/7/2012); Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam với Ốt-xtrây-li-a năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 7/4/2014); Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam với In-đô-nê-xi-a năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 26/4/2015). Tuy nhiên, vấn đề này lại không được quy định tại các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự mà Việt Nam là thành viên hoặc Việt Nam đã ký với nước ngoài nhưng chưa có hiệu lực. Thực tiễn cho thấy đây là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp nhưng chưa được Luật tương trợ tư pháp 2008 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, thực hiện. Trên thực tế đã phát sinh một số trường hợp khi Việt Nam yêu cầu nước ngoài thực hiện việc dẫn độ hoặc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, thì nước được Việt Nam yêu cầu đã đặt điều kiện nước đó chỉ xem xét, thực hiện các yêu cầu này nếu Việt Nam cam kết bằng văn bản về việc không áp dụng hình phạt tử hình hoặc nếu có áp dụng thì cũng không được thi hành với bị cáo trong vụ án hình sự phát sinh yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc yêu cầu dẫn độ. Do không có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về vấn đề này nên giữa các cơ quan liên quan (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp) đã gặp khó khăn về cơ sở pháp lý trong nước để xem xét yêu cầu của phía nước ngoài cũng như thống nhất quan điểm về cơ quan có thẩm quyền lập, ký văn bản trả lời cho nước ngoài, đặc biệt trong trường hợp Việt Nam đồng ý cam kết theo yêu cầu của nước ngoài.

b) Về thủ tục Tòa án xem xét yêu cầu dẫn độ và yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Các thủ tục Tòa án xem xét yêu cầu dẫn độ, yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù được quy định tại Chương IV và Chương V Luật tương trợ tư pháp 2008. Tuy nhiên, qua rà soát, thì Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng quy định về các thủ tục này tại Chương IV và Chương V nêu trên còn thiếu hoặc chưa cụ thể nên chưa thuận tiện cho Tòa án cũng như Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ của mình. Cụ thể, tại Chương IV và Chương V của Luật này chưa có các quy định về: (i) Thủ tục Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát; (ii) Thủ tục và các căn cứ để Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết yêu cầu; hoãn phiên họp xem xét yêu cầu (iii) Thẩm quyền cụ thể của Hội đồng phúc thẩm trong việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị. Cùng với đó, khi xem xét yêu cầu dẫn độ, Tòa án, Viện kiểm sát có khả năng sẽ không thống nhất được cách thức giải quyết yêu cầu này trong các trường hợp sau đây: a) Cơ quan tiến hành tố tụng không biết rõ người bị yêu cầu dẫn độ đang ở đâu trong trường hợp người này không bị tạm giam; b) Đã có kết luận giám định tư pháp hoặc cơ quan tiến hành tố tụng đang chờ kết luận giám định tư pháp xác định người bị yêu cầu dẫn độ có bị tâm thần hay không;

c) Người bị yêu cầu dẫn độ mắc bệnh hiểm nghèo mà thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu dẫn độ đã hết. Bên cạnh đó, Tòa án cũng sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định hoãn hay không hoãn phiên họp giải quyết yêu cầu dẫn độ trong các trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ, Luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người bị yêu cầu dẫn độ hoặc Kiểm sát viên không có mặt tại phiên họp.

Tương tự, đối với việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cũng sẽ gặp khó khăn trong việc ra quyết định để giải quyết yêu cầu trong các trường hợp sau đây: (i) Người đang chấp hành hình phạt tù đang được hoặc phải được đưa đi giám định tư pháp để kết luận có bị tâm thần hay không; (ii) Người người đang chấp hành hình phạt tù đang trong quá trình bắt buộc chữa bệnh hoặc bị bệnh hiểm nghèo mà thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đã hết. Ngoài ra, Tòa án cũng sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định hoãn hay không hoãn phiên họp giải quyết yêu cầu trong các trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù, Luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đang chấp hành hình phạt tù hoặc Kiểm sát viên không có mặt tại phiên họp.

2.2. Đề xuất về các định hướng lớn sửa đổi Luật tương trợ tư pháp 2008

Từ những nhận định, đánh giá nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng Luật tương trợ tư pháp 2008 cần phải được nghiên cứu, sửa đổi toàn diện theo một số định hướng lớn sau đây:

Thứ nhất, cần tách Luật tương trợ tư pháp 2008 thành các luật cụ thể tương ứng với từng lĩnh vực (tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù) để phù hợp thông lệ quốc tế và thực tiễn công tác đàm phán, ký kết điều ước quốc tế của Việt Nam trong các lĩnh vực nêu trên từ nhiều năm trở lại đây. Trước đây, một trong những mục đích chính mà Luật tương trợ tư pháp 2008 được xây dựng, thông qua là để nội luật hóa các quy định của 12 điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên với các nước Liên bang Nga, U-crai-na, Bê-la-rút, Ba Lan, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Tiệp Khắc (Séc và Xlô-va-ki-a kế thừa), Mông Cổ, Cu Ba, Triều Tiên, Trung Quốc và Lào. Do đó, Luật này đã điều chỉnh cả 4 nội dung quy định tại các hiệp định nêu trên (tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù). Tuy nhiên, từ khi Luật tương trợ tư pháp 2008 có hiệu lực đến nay, thì công tác đàm phán, ký hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và nước ngoài được thực hiện theo chủ trương mới, theo đó từng nội dung tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù được đàm phán, ký riêng theo từng hiệp định cụ thể. Xu hướng đàm phán, ký hiệp định riêng rẽ về các vấn đề tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù là hướng đi đúng, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước, thông lệ quốc tế và nhu cầu hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực này giữa Việt Nam và nước ngoài. Như vậy, việc duy trì phạm vi điều chỉnh 4 lĩnh vực (tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù) trong Luật tương trợ tư pháp 2008 không còn phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, mỗi dự thảo Luật trong từng lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù cần phải khắc phục các hạn chế, bất cập cơ bản phát sinh từ thực tiễn như đã nêu tại tiểu mục 2.1 Mục 2 Phần II của Thông báo này. Đồng thời, các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên phải được tiếp tục cụ thể hóa vào trong từng dự thảo Luật để bảo đảm tính khả thi của các điều ước quốc tế đó trên thực tế. Song song với đó, các dự thảo Luật này cần được Quốc hội cho phép xây dựng, thông qua và có hiệu lực cùng một thời điểm để hạn chế việc không thống nhất, đồng bộ và áp dụng nhiều văn bản khác nhau làm ảnh hưởng đến công tác tương trợ tư pháp của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Đối với dự thảo Luật quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, để giảm tải công việc cho Tòa án và không làm phát sinh các chi phí mà ngân sách nhà nước phải chi trả, cần quy định cho phép Thừa phát lại, Luật sư thực hiện việc tống đạt giấy tờ; Luật sư được quyền thu thập chứng cứ (lấy lời khai của đương sự tại Việt Nam) theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; Nước yêu cầu Việt Nam thực hiện tương trợ tư pháp phải trả chi phí thực hiện cho Thừa phát lại và Luật sư. Cùng với đó, dự thảo Luật này cần quy định viện dẫn cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài là các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát) theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài phát sinh từ việc giải quyết vụ án hành chính, thì cần quy định theo hướng cho phép Tòa án, Viện kiểm sát áp dụng trình tự, thủ tục tại Luật này để thực hiện.

III. KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương

Trong năm 2017, hoạt động đàm phán, ký kết điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong các lĩnh vực hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù có những bước tiến đáng ghi nhận về cả số lượng và chất lượng các điều ước được đàm phán, ký kết. Trong quá trình đó, Tòa án nhân dân tối cao đã tích cực đóng góp ý kiến bằng văn bản, tham gia Đoàn đàm phán của Việt Nam đàm phán một số hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam với nhiều nước khác nhau.

2. Nghiên cứu, gia nhập các điều ước quốc tế đa phương

Sau khi Việt Nam gia nhập Công ước tống đạt giấy tờ, với chủ trương gia nhập các điều ước quốc tế đa phương cần phải bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, khắc phục được khó khăn phát sinh từ các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài do Tòa án Việt Nam giải quyết, Tòa án nhân dân tối cao đã cùng với Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (sau đây viết tắt là Công ước thu thập chứng cứ). Đây là một trong những Công ước quan trọng của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế có hiệu lực từ năm 1972 và cho đến thời điểm hiện nay đã có 61 nước thành viên. Đáng chú ý là các nước mà Tòa án Việt Nam thường có yêu cầu thu thập chứng cứ khi giải quyết vụ việc dân sự như: Hoa Kỳ, Anh, Ốt-xtrây-li-a, Đức và Xing-ga-po đều là thành viên của Công ước này. Qua nghiên cứu, đánh giá sơ bộ, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng các quy định của Công ước này cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam nên trong tương lai việc Việt Nam gia nhập Công ước này là khả thi. Song song với đó, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tham gia các phiên họp của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế để xây dựng dự thảo một số Công ước mới, bao gồm Công ước công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án nước ngoài. Đây là hoạt động thiết thực để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm các nước trong việc tham gia trực tiếp xây dựng điều ước quốc tế đa phương trong khuôn khổ của Hội nghị này để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, gia nhập Công ước trong thời gian tới.

3. Tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp

a) Công tác rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các điều ước quốc tế

Trong năm 2017, Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục tiến hành rà soát, đánh giá tình hình thực hiện một số Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam là thành viên. Kết quả công tác rà soát cho thấy chỉ có một số hiệp định có quy định về việc Việt Nam và nước thành viên Hiệp định cùng trao đổi ý kiến với nhau về việc thực hiện hiệp định theo cơ chế hợp tác hiện hành giữa hai bên (Hiệp định giữa Việt Nam và Bê-la-rút; Việt Nam và Liên bang Nga; Việt Nam và U-crai-na; Việt Nam và Ca-dắc-xtan) hoặc hai bên cùng tiến hành rà soát, đánh giá tình hình thực hiện hiệp định (Hiệp định giữa Việt Nam và Căm-pu-chia; giữa Việt Nam và Pháp); các hiệp định còn lại không có các quy định nêu trên. Trên thực tế, trong nhiều năm trước đây, việc thực hiện các quy định này chưa được nhiều nên đã ảnh hưởng đến kết quả thực hiện tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và nước thành viên hiệp định. Trong năm 2017, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng công tác này đã Bộ Tư pháp của Việt Nam quan tâm nhiều hơn thông qua việc chủ động liên hệ với một số nước thành viên hiệp định để xử lý các vấn đề về tổ chức thực hiện tương trợ tư pháp giữa hai bên. Do đó, yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài do Tòa án cấp tỉnh thực hiện đã có chuyển biến tích cực.

b) Công tác tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế

Nhận thấy việc thực thi Công ước tống đạt giấy tờ có vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở để bảo đảm chất lượng, hiệu quả của công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án, ngày 9/03/2017 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 25/QĐ-TANDTC phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Công ước tại Tòa án các cấp. Mục đích ban hành Kế hoạch này là nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả, chất lượng công tác tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài của Tòa án để phục vụ công tác giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và thực hiện yêu cầu tống đạt giấy tờ của các nước thành viên Công ước; góp phần thiết thực thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước về hội nhập quốc tế trong hoạt động của Tòa án. Đồng thời, việc ban hành Kế hoạch này cũng là căn cứ để Tòa án nhân dân tối cao chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan nhà nước liên quan để thực hiện đầy đủ trách nhiệm thành viên Công ước của Việt Nam. Cùng với đó, Tòa án nhân dân tối cao đã chủ động phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao tổ chức phổ biến, quán triệt nội dung Công ước tống đạt, quy trình ủy thác tư pháp cho các Toà án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao để tạo sự thống nhất về nhận thức trong triển khai thực hiện Công ước. Hiện nay, các đơn vị trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đang tích cực triển khai thực hiện các công việc cụ thể theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ được phân công trong Kế hoạch này.

Trên cơ sở chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã tổ chức quán triệt những nội dung mới của pháp luật trong nước và Công ước tống đạt giấy tờ cho cán bộ, Thẩm phán của đơn vị mình. Do đó, trong quá trình yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự cũng như thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao cơ bản đã áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Công ước và pháp luật trong nước về vấn đề này.

IV. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN YÊU CẦU ỦY THÁC TƯ PHÁP

Trong năm 2017, số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của các Tòa án cấp tỉnh ra nước ngoài và yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài do Tòa án cấp tỉnh thực hiện vẫn duy trì ở mức tương đương với năm 2016. Cụ thể như sau:

1. Về yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao để giải quyết vụ việc dân sự

Trong thời gian từ ngày 01/10/2016 đến ngày 15/9/2017, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã gửi ra nước ngoài 3264 hồ sơ ủy thác tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Trong đó, số hồ sơ gửi cho đương sự ở nước ngoài trong các vụ án dân sự là 1691/3264 hồ sơ, chiếm tỷ lệ 51,8%; vụ án hôn nhân và gia đình là 1476/3264 hồ sơ, chiếm tỷ lệ 45,2% tổng số hồ sơ; 97 hồ sơ còn lại là các vụ án kinh doanh, thương mại và lao động. Các hồ sơ ủy thác tư pháp chủ yếu được gửi đến các nước, vùng lãnh thổ thành viên Hiệp định, thỏa thuận tương trợ tư pháp với Việt Nam như: Trung Quốc, Đài Loan, Nga, Pháp, Séc (686/3264 hồ sơ); Nước thành viên của Công ước tống đạt giấy tờ, bao gồm: Hoa Kỳ (1620/3264 hồ sơ); Hàn Quốc, Úc, Nhật Bản, Ca-na-đa (479/3264 hồ sơ); số hồ sơ ủy thác tư pháp còn lại được gửi đến nhiều nước khác.

Về kết quả, các Tòa án đã nhận được 2187 thông báo kết quả thực hiện, gồm 1117 thông báo yêu cầu ủy thác tư pháp được thực hiện xong và 1070 thông báo yêu cầu ủy thác tư pháp đã thực hiện nhưng không có kết quả. Trong số hồ sơ ủy thác còn lại (1077 hồ sơ), thì có 24 yêu cầu ủy thác tư pháp bị từ chối thực hiện và 1053 hồ sơ chưa nhận được kết quả.

Như vậy, trong tổng số 3264 hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài, thì có đến 1070 hồ sơ không có kết quả và 1053 hồ sơ chưa nhận được kết quả, chiếm 65,04%; số lượng hồ sơ có kết quả là 1117 hồ sơ, chiếm 34,22% tổng số hồ sơ.

2. Về yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan thẩm quyền nước ngoài

Trong thời gian từ ngày 01/10/2016 đến ngày 15/9/2017, các Tòa án cấp tỉnh đã nhận được 622 hồ sơ ủy thác tư pháp của Tòa án các nước cùng với Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp và Công ước tống đạt giấy tờ. Các hồ sơ này chủ yếu là văn bản tố tụng của Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc ly hôn mà một bên đương sự cư trú tại Việt Nam hoặc trở lại Việt Nam cư trú sau một thời gian sinh sống ở nước ngoài.

Về kết quả, các Tòa án cấp tỉnh đã tiến hành thực hiện 588 hồ sơ, trong đó có 435 hồ sơ có kết quả và 153 hồ sơ không có kết quả; từ chối thực hiện 12 hồ sơ; chưa thực hiện 94 hồ sơ. Như vậy, số lượng hồ sơ ủy thác tư pháp mà Tòa án cấp tỉnh đã thực hiện xong là 588/622 hồ sơ, chiếm tỷ lệ 94,53% tổng số hồ sơ. Số lượng 94 hồ sơ chưa được thực hiện chủ yếu là những yêu cầu mới nhận được vào các tháng 7 và tháng 8 năm 2017 đang được các Tòa án cấp tỉnh xác minh địa chỉ của đương sự để triển khai thực hiện.

V. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Về kết quả đạt được

Trong công tác chỉ đạo điều hành, Tòa án nhân dân tối cao đã bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của năm 2017 về công tác tương trợ tư pháp, kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo; hướng dẫn Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao áp dụng thống nhất quy định của điều ước quốc tế, các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành trong lĩnh vực này. Cùng với đó, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ, ngành liên quan để bàn và thống nhất biện pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn nên công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài tại các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ.

Trong công tác tổ chức thực hiện, trên cơ sở chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao và căn cứ thẩm quyền trách nhiệm của mình, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện khi phát sinh yêu cầu ủy thác tư pháp. Cụ thể, đối với công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao cơ bản đã tuân thủ quy trình lập, gửi hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại Thông tư liên tịch số 12/2016 nên hạn chế được tình trạng hồ sơ ủy thác tư pháp bị trả lại để hoàn thiện. Từ đó, Tòa án có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp tục giải quyết vụ án; hạn chế được một phần tình trạng Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả ủy thác tư pháp như những năm trước đây. Đối với việc thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, các Tòa án cấp tỉnh đã tích cực tiến hành xác minh địa chỉ của đương sự, thực hiện việc tống đạt trực tiếp hầu hết các yêu cầu ủy thác. Do đó, đã có 94,53% số yêu cầu ủy thác tư pháp loại này đã được các Tòa án cấp tỉnh thực hiện xong và gửi thông báo kết quả cho Bộ Tư pháp.

Trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, với tinh thần xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn nên Tòa án nhân dân tối cao đã chú trọng nghiên cứu, đề xuất được các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 15/2011. Do đó, nội dung Thông tư liên tịch số 12/2016 đã đáp ứng được yêu cầu của Luật tương trợ tư pháp 2008, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và quy định của Công ước tống đạt giấy tờ; tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao áp dụng thống nhất quy trình ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

Trong công tác đàm phán, gia nhập và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, trên cơ sở đánh giá đúng vai trò của công tác tương trợ tư pháp đối với hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự, hình sự, yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Tòa án nhân dân tối cao đã kịp thời đóng góp ý kiến vào dự thảo các điều ước quốc tế; tích cực nghiên cứu, ban hành văn bản để triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ điều ước quốc tế mà Việt Nam mới gia nhập tại Tòa án trong phạm vi toàn quốc. Qua đó, đã góp phần đưa công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án ngày càng đạt chất lượng, hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Đặc biệt, từ trước tới nay, trong hai thủ tục quan trọng của việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài và thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao thường gặp khó khăn, thì khó khăn về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng đã cơ bản được giải quyết bằng việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước tống đạt giấy tờ. Đây là một sự kiện pháp lý hết sức quan trọng, mang tính bước ngoặt cho việc giải quyết vụ việc dân sự có đương sự ở nước ngoài tại Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao. Cụ thể, trước khi gia nhập Công ước này, Tòa án chủ yếu thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài theo phương thức ngoại giao do đa số đương sự ở nước ngoài cư trú ở các nước mà nước đó chưa cùng với Việt Nam là thành viên điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp. Trên thực tế, phương thức này không hiệu quả do mất nhiều thời gian, tiến độ thực hiện chậm và số lượng yêu cầu được thực hiện không nhiều. Tuy nhiên, tình hình đó đã thay đổi từ khi Công ước tống đạt giấy tờ có hiệu lực với Việt Nam (ngày 01/10/2016), các Tòa án đã chuyển từ yêu cầu ủy thác tư pháp theo phương thức ngoại giao sang phương thức quy định tại Công ước này vì hầu hết các nước mà trước đây Tòa án Việt Nam yêu cầu ủy thác tư pháp theo con đường ngoại giao đều là thành viên của Công ước tống đạt giấy tờ. Thực tiễn cho thấy, trong năm 2017, việc tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của Công ước tống đạt giấy tờ đã có kết quả tốt hơn so với những năm trước đây.

2. Về các khó khăn, tồn tại và nguyên nhân

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng công tác tương trợ tư pháp năm 2017 mà chủ yếu là công tác ủy thác tư pháp trong tố tụng dân sự và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài vẫn còn những khó khăn, tồn tại nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại các Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp cao và cam kết giữa Việt Nam và nước ngoài về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự. Thực trạng này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có cả nguyên nhân thể chế và thực thi pháp luật.

2.1. Về các khó khăn và tồn tại

a) Về công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao

Qua tổng kết thực tiễn, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao vẫn còn gặp một số khó khăn, tồn tại chủ yếu sau đây:

(i) Số lượng hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài mà cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không thực hiện được cũng như chưa được thực hiện còn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hồ sơ của Tòa án gửi ra nước ngoài;

(ii) Tình trạng đương sự có nghĩa vụ thanh toán chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài cố tình không nộp vẫn còn diễn ra khá nhiều. Bên cạnh đó, có nhiều đương sự không đủ khả năng để thanh toán chi phí này theo yêu cầu của Tòa án.

b) Về công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Trong năm 2017, mặc dù kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã có những tiến bộ so với năm trước nhưng vẫn còn một số khó khăn, tồn tại chủ yếu sau đây:

(i) Một số Tòa án cấp tỉnh còn mất nhiều thời gian khi thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;

(ii) Đa số Tòa án cấp tỉnh không đủ nguồn nhân lực và không có ngân sách để thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

c) Về công tác đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế

Mặc dù công tác đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự đã được Bộ Tư pháp chú trọng nhưng công tác này vẫn gặp một số khó khăn, tồn tại chủ yếu sau đây:

(i) Việc tiến hành đàm phán mới các điều ước quốc tế còn chưa được tiến hành;

(ii) Một số các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký với các nước thuộc khối XHCN trước đây đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn hiện nay nhưng việc đề xuất đàm phán để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng điều ước quốc tế mới chưa có tiến triển tích cực;

(iii) Một số điều ước quốc tế đa phương liên quan trực tiếp đến hoạt động tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam như Công ước về thu thập chứng cứ vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, đánh giá khả năng gia nhập.

2.2. Về nguyên nhân

Qua tổng kết tình hình thực hiện công tác tương trợ tư pháp năm 2017, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng các các khó khăn, hạn chế nêu trên của công tác này xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

a) Đối với công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án

Thứ nhất, đương sự ở nước ngoài trong các vụ án dân sự do Tòa án cấp tỉnh giải quyết trong năm 2017 có địa chỉ cư trú hoặc nơi làm việc tại hơn 40 nước, vùng lãnh thổ. Do đó, các cán bộ, Thẩm phán của Tòa án cấp tỉnh không có đủ trình độ ngoại ngữ để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của địa chỉ của đương sự ở các nước, vùng lãnh thổ nêu trên. Cùng với đó, do điều kiện kinh tế, xã hội ở nước ngoài khác với Việt Nam nên đa số các đương sự ở nước ngoài không có địa chỉ cư trú lâu dài, ổn định và hay thay đổi địa chỉ cư trú. Đồng thời, trong nhiều vụ án, thì giữa đương sự ở trong nước và đương sự ở nước ngoài không có mối quan hệ gắn bó hoặc chấm dứt liên lạc với nhau trong một thời gian dài. Do đó, khi đương sự ở nước ngoài thay đổi địa chỉ cư trú hoặc làm việc, thì đương sự ở trong nước không có khả năng để cung cấp địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài cho Tòa án khi nộp đơn khởi kiện hoặc trong quá trình Tòa án giải quyết. Từ đó, dẫn đến tình trạng có một số lượng lớn hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án tuy được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện nhưng không có kết quả với lý do chủ yếu là địa chỉ không chính xác, đầy đủ hoặc đương sự đã chuyển nơi cư trú nhưng không rõ địa chỉ mới.

Thứ hai, khi thực hiện việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự, thì Tòa án phải tống đạt nhiều lần các văn bản tố tụng khác nhau cho đương sự ở nước ngoài. Tuy nhiên, theo quy định của Công ước tống đạt giấy tờ, thì có nhiều nước thành viên Công ước này thu chi phí thực hiện tống đạt; trong đó, mức thu chi phí này ở một số nước rất cao. Ví dụ: Hoa Kỳ thu 95 đô la hoặc Ốt-xtrây-li-a thu 310 đô la cho mỗi lần tống đạt nếu thực hiện trong phạm vi địa giới hành chính của thủ đô nước này. Với mức chi phí như trên, ước tính chi phí tống đạt (bao gồm chi phí chuyển tiền do ngân hàng thu và chi phí dịch hồ sơ) khi giải quyết một vụ án mà đương sự cư trú tại Hoa Kỳ là 280 đô la hoặc đương sự cư trú tại thủ đô của Ốt-xtrây-li-a là 680 đô la. Do chi phí cao như vậy nên có nhiều trường hợp đương sự cố tình không thanh toán chi phí tống đạt hoặc họ không có khả năng tài chính để thanh toán và cũng không thuộc trường hợp được miễn, giảm chi phí này. Từ đó, Tòa án không thể thực hiện được việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài hoặc sẽ không nhận được kết quả tống đạt vì cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải nhận được chi phí tống đạt mới gửi trả kết quả thực hiện cho Bộ Tư pháp Việt Nam. Trong khi đó, hệ thống bưu chính tại nhiều tỉnh chưa cung cấp được dịch vụ chuyển phát bưu phẩm quốc tế có ký nhận của người nhận nên Tòa án không áp dụng được phương thức tống đạt theo đường bưu chính cho đương sự ở nước ngoài. Nếu Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài theo dịch vụ chuyển phát bảo đảm quốc tế thông thường thì Tòa án không có căn cứ để xác định đương sự ở nước ngoài đã nhận được văn bản hay chưa vì dịch vụ bưu chính này không cung cấp thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc giao nhận hồ sơ ở nước ngoài.

b) Đối với công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài

Từ nhiều năm trước đến nay, khi thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, các Tòa án cấp tỉnh đã và đang gặp khó khăn trong việc xác định địa chỉ tống đạt, họ tên của người cần phải tống đạt. Qua tổng kết thực tiễn, thì Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Theo đó, một mặt, có những trường hợp xuất phát từ việc bản dịch ra tiếng Việt của văn bản cần phải tống đạt cho đương sự ở Việt Nam chưa bảo đảm yêu cầu. Ví dụ: dịch không đúng tên quận, huyện, xã, phường hoặc dịch ra từ Hán-Việt địa chỉ nơi cư trú của người cần được tống đạt. Mặt khác, có những trường hợp đương sự ở Việt Nam đã không còn cư trú tại địa chỉ ghi trên văn bản cần tống đạt hoặc địa chỉ cần tống đạt chỉ ghi tên tỉnh, huyện, xã mà không cụ thể đến thôn, xóm, tổ. Do đó, trong những trường hợp này, Tòa án đã mất rất nhiều thời gian để xác minh địa chỉ tại chính quyền địa phương để làm căn cứ cho việc tống đạt văn bản cho đương sự.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Thông tư số 144/2012/TT-BTC ngày 04/9/2012 của Bộ Tài chính quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác tương trợ tư pháp, thì Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp tỉnh được ngân sách nhà nước bảo đảm cho việc thực hiện công tác ủy thác tư pháp. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án cấp tỉnh không được cấp kinh phí theo quy định của Thông tư nêu trên. Do đó, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Tòa án nhân dân tối cao và việc thực hiện yêu cầu ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài của các Tòa án cấp tỉnh bị ảnh hưởng rất lớn. Nếu tình trạng này không được khắc phục, thì sẽ tác động tiêu cực đến công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao. Theo đó, các nước mà Việt Nam yêu cầu tống đạt văn bản tố tụng có thể sẽ áp dụng nguyên tắc có đi có lại để không thực hiện các yêu cầu ủy thác của Tòa án Việt Nam khi các yêu cầu ủy thác của những nước này không được Việt Nam thực hiện. Nếu xảy ra trường hợp này, thì có khả năng hàng nghìn vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài mà Tòa án cấp tỉnh đang giải quyết sẽ bị kéo dài thời hạn tố tụng vì Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết với lý do chờ kết quả ủy thác tư pháp. Tuy nhiên, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án không chỉ làm tồn đọng hàng nghìn vụ án trong một khoảng thời gian không thể xác định trước mà còn làm đình trệ các quan hệ pháp luật tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, gây bức xúc cho đương sự và dư luận xã hội. Đặc biệt, tình hình trên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền, lợi ích hợp pháp của người phụ nữ và trẻ em ở trong nước trong các vụ án về ly hôn. Kết quả thống kê cho thấy từ nhiều năm nay, số lượng hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài chủ yếu phát sinh từ các vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là người vợ trong nước xin ly hôn với bị đơn là người chồng đang cư trú ở nước ngoài. Trong năm 2017, số lượng vụ án hôn nhân và gia đình phát sinh yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài là 1476/3264 hồ sơ, chiếm 45,2% tổng số hồ sơ.

c) Đối với công tác đàm phán, gia nhập điều ước quốc tế

Qua tổng kết thực tiễn và căn cứ kết quả công tác phối hợp với Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng việc đề xuất đàm phán mới hoặc sửa đổi, bổ sung điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với một số nước đã gặp khó khăn và chưa có chuyển biến tích cực. Nguyên nhân chính của tình hình này là do nước thành viên điều ước quốc tế với Việt Nam không có nhu cầu đàm phán để sửa đổi, bổ sung hoặc ký lại điều ước mới. Bên cạnh đó, trong nhiều điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên đều có quy định về việc công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án mỗi nước trên lãnh thổ của nhau nên giữa Việt Nam và nước thành viên rất khó đạt được sự đồng thuận khi phía nước ngoài cho rằng việc đàm phán về vấn đề này thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án tối cao nước đó cũng như phải sửa đổi pháp luật trong nước. Mặt khác, trên thực tế, hoạt động hợp tác tư pháp về dân sự giữa các nước chủ yếu là việc các nước hỗ trợ cho nhau về tống đạt văn bản tố tụng và thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Do đó, hiện nay các nước trên thế giới đều có xu hướng gia nhập hai Công ước quan trọng của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế là Công ước tống đạt giấy tờ và Công ước thu thập chứng cứ; giảm thiểu việc tiến hành đàm phán, ký với nhau các hiệp định tương trợ tư pháp song phương về dân sự. Đặc biệt, đa số các nước trên thế giới mà Tòa án Việt Nam thường có yêu cầu ủy thác tư pháp đều là thành viên của hai Công ước này. Trong khi đó, Việt Nam chỉ mới gia nhập Công ước tống đạt giấy tờ; chưa gia nhập Công ước thu thập chứng cứ. Trong bối cảnh đó, thì việc Việt Nam đề xuất với các nước này để đàm phán, ký hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự là hết sức khó khăn. Đồng thời, các nước này cũng cho rằng Việt Nam cần gia nhập Công ước thu thập chứng cứ thì phù hợp hơn là đề nghị đàm phán, ký kết song phương hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự.

PHẦN THỨ HAI

NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Trên cơ sở tình hình và kết quả hoạt động tương trợ tư pháp trong năm 2017 và trước yêu cầu đặt ra đối với công tác này, Tòa án nhân dân tối cao xác định các nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu trong năm 2018 như sau:

I. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2018

1. Về công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân

- Tiếp tục chỉ đạo các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao thực thi có chất lượng, hiệu quả công tác tương trợ tư pháp. Trên cơ sở đó, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao tích cực, chủ động thực hiện tốt các khâu chuẩn bị cho các yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

- Tiếp tục chỉ đạo triển khai thi hành Quyết định số 25/QĐ-TANDTC ngày 9/3/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Công ước tống đạt giấy tờ tại Tòa án nhân dân.

- Tổ chức một số lớp tập huấn nghiệp vụ công tác tương trợ tư pháp, tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Công ước tống đạt giấy tờ và Thông tư liên tịch số 12/2016 cho các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao;

- Tăng cường hoạt động kiểm tra, đôn đốc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao thông qua việc tổ chức một số đoàn kiểm tra trực tiếp tại một số Tòa án cấp tỉnh.

- Tăng cường phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc giải quyết các vấn đề liên ngành phát sinh trong quá trình triển khai công tác tương trợ tư pháp và trên cơ sở tiến hành tổng kết thực tiễn định kỳ 6 tháng và hàng năm.

2. Về công tác phối hợp đàm phán, ký kết, nghiên cứu gia nhập điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp

- Tích cực tham gia đóng góp ý kiến, đàm phán, nghiên cứu gia nhập các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và nước ngoài theo đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan trong việc trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp với Việt Nam để có hướng xử lý thích hợp.

- Tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tiến hành nghiên cứu nội dung, mục đích, thực tiễn tham gia, thi hành một số công ước liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, bao gồm Công ước thu thập chứng cứ.

4. Về thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp tại Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao

Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao tập trung tổ chức triển khai nghiêm túc, có hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất cho Tòa án nhân dân tối cao về kết quả hoạt động tương trợ tư pháp cùng các kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn để Tòa án nhân dân tối cao kịp thời chỉ đạo khắc phục hoặc phối hợp với cơ quan hữu quan để thống nhất phương án giải quyết.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Để từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập và hoàn thành tốt công tác tương trợ tư pháp của năm 2018, Tòa án nhân dân tối cao tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Tăng cường công tác hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ, kiểm tra, đôn đốc thực hiện công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao.

2. Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc thống nhất các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến trách nhiệm chung của liên ngành trong công tác tương trợ tư pháp.

3. Đẩy mạnh công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài và yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao.

4. Tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao; tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho công tác tương trợ tư pháp.

III. KIẾN NGHỊ

Để bảo đảm ngày càng tốt hơn về thời gian, tiến độ, chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp về tương trợ tư pháp giữa các cơ quan trung ương và công tác tương trợ tư pháp của các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao, Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị:

1. Về công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Đề nghị Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao để triển khai công tác tương trợ tư pháp, xây dựng hoàn thiện thể chế pháp luật trong nước, đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thì liên hệ thông qua Vụ Hợp tác quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao để bảo đảm thống nhất đầu mối và tiến độ, thời gian thực hiện.

- Bộ Ngoại giao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ động, tích cực hơn nữa trong việc liên hệ, tham vấn, đề nghị với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đẩy nhanh tiến độ thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp của Tòa án Việt Nam.

- Bộ Tư pháp tăng cường trao đổi thông tin, đề xuất với những nước thành viên Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam về việc tổ chức các cuộc họp định kỳ hàng năm hoặc hai năm đánh giá tình hình kết quả tương trợ tư pháp giữa hai bên trên lãnh thổ của mỗi nước.

- Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao tổ chức các cuộc họp định kỳ để trao đổi thông tin, thảo luận, quyết định các biện pháp phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự.

- Định kỳ hàng quý, Bộ Tư pháp cung cấp cho Tòa án nhân dân tối cao thông tin cụ thể về số lượng hồ sơ, thời gian chuyển hồ sơ, tên các Tòa án cấp tỉnh được giao thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài nhưng Bộ Tư pháp chưa nhận được thông báo kết quả để Tòa án nhân dân tối cao kịp thời chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện.

2. Về kinh phí bảo đảm công tác tương trợ tư pháp

- Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình báo cáo, kiến nghị Chính phủ chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn về kinh phí thực hiện công tác tương trợ tư pháp tại các cơ quan liên quan, trong đó có Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án cấp tỉnh để bảo đảm thực hiện tốt, có hiệu quả, chất lượng công tác tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên.

Trên đây là Thông báo của Tòa án nhân dân tối cao về tình hình, kết quả hoạt động tương trợ tư pháp năm 2017 tại Tòa án nhân dân để Bộ Tư pháp tổng hợp xây dựng dự thảo Báo cáo trình Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp./.

Nơi nhận:

- Như trên;

- Đ/c Chánh án TANDTC (để báo cáo);

- Các đồng chí PCA TANDTC (để biết);

- Lưu: VT, PLQT, VHTQT (TANDTC).

 

KT. CHÁNH ÁN

PHÓ CHÁNH ÁN

Đã ký

Nguyễn Thúy Hiền

Lượt xem: 41

Trang thông tin điện tử tương trợ tư pháp

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượt truy cập:

Địa chỉ: 262 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Cán bộ phụ trách: Lê Mạnh Hùng - Chức vụ: Phó Vụ trưởng
Điện thoại: +84.24.376.230.36; 0976437814
Email: phapluatquocte@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Trang TTĐT Tương trợ tư pháp - Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ tttp.toaan.gov.vn.

ácdscv