Skip to main content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

-------------

Số: /TANDTC-HTQT

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 2018

THÔNG BÁO

VỀ TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2018

Kính gửi: Bộ Tư pháp

Thực hiện quy định tại Điều 63 Luật tương trợ tư pháp năm 2007, Tòa án nhân dân tối cao thông báo đến Bộ Tư pháp tình hình và kết quả thực hiện công tác tương trợ tư pháp năm 2018 (từ ngày 01/10/2017 đến hết ngày 31/8/2018) tại Tòa án nhân dân như sau:

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

1. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tương trợ tư pháp

Trên tinh thần bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của năm công tác 2018, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành một số Công văn (Công văn số 272/TANDTC-HTQT ngày 24/11/2017 và Công văn số 297/TANDTC-HTQT ngày 20/12/2017) tập trung chỉ đạo các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Tòa án nhân dân cấp cao (sau đây viết tắt là Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao) tiếp tục tổ chức thực hiện đúng quy định của Luật tương trợ tư pháp năm 2007, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên khi ủy thác tư pháp ra nước ngoài; thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang thi hành hình phạt tù của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc của Tòa án nhân dân tối cao làm tốt công tác tham mưu phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao với các bộ, ngành liên quan về đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp; tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật về hoạt động tương trợ tư pháp.

Cùng với đó, để tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đang hoàn thiện Trang thông tin điện tử về tương trợ tư pháp trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao. Trang thông tin điện tử về tương trợ tư pháp được xây dựng bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh với nhiều chuyên mục khác nhau, trong đó có các chuyên mục đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, điều ước quốc tế song phương, đa phương theo từng lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự; dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Với trang thông tin điện tử này, Tòa án các cấp, người dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị có quan tâm đều có thể truy cập miễn phí khi muốn tìm hiểu quy định của pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để nâng cao nhận thức, phục vụ nhu cầu công tác, học tập của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Đồng thời với việc xây dựng Trang thông tin điện tử về tương trợ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao cũng đang tiến hành xây dựng phần mềm quản lý nghiệp vụ về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn công tác chỉ đạo, điều hành, thống kê, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc các hoạt động này tại Tòa án nhân dân trong những năm tới.

2. Công tác tổ chức thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp

Năm 2018 là năm thứ hai các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao tiếp tục thực hiện công tác ủy thác tư pháp về dân sự theo phương thức quy định tại Công ước tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước tống đạt giấy tờ) và đã được cụ thể hóa trong Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự (TTLT số 12/2016). Về cơ bản, việc thực hiện ủy thác tư pháp của các Tòa án cấp tỉnh thường có yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài hoặc thường thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài đã đi vào nền nếp, có chất lượng. Bên cạnh đó, để hỗ trợ các Tòa án mới bắt đầu phát sinh hoặc phát sinh không thường xuyên yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài, Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành hướng dẫn các Tòa án này về nghiệp vụ ủy thác tư pháp thông qua nhiều hình thức khác nhau như: trao đổi công văn, hướng dẫn trực tiếp qua điện thoại, cung cấp thông tin qua hộp thư điện tử…

Bên cạnh đó, đối với công tác tương trợ tư pháp về hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Tòa án nhân dân tối cao cũng có sự quan tâm thích đáng thông qua việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho một số Tòa án cấp tỉnh được giao nhiệm vụ giải quyết các yêu cầu này.

Trên cơ sở chỉ đạo, hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và căn cứ trách nhiệm của mình, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã kịp thời tiến hành lập hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi phát sinh yêu cầu ủy thác từ vụ việc dân sự, vụ án hình sự; tổ chức thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp, xem xét, giải quyết các yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù ngay sau khi nhận được hồ sơ từ Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an chuyển đến. Từ đó, trong năm 2018, công tác tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Tòa án nhân dân đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận; đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài cũng như tăng cường một bước hoạt động hợp tác quốc tế của Tòa án với nước ngoài trong các lĩnh vực này.

II. CÔNG TÁC PHỐI HỢP XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VÀ ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT, GIA NHẬP ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

1. Công tác phối hợp tổng kết thực tiễn, đề xuất sửa đổi Luật tương trợ tư pháp hiện hành

Luật tương trợ tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2008. Cho đến nay, sau 10 năm thi hành, bên cạnh là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự, dân sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo nguyên tắc có đi có lại, thì Luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần phải được khắc phục. Do đó, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng chủ trương của Chính phủ về việc tách nội dung Luật này để xây dựng thành 4 dự án Luật độc lập, tương ứng với từng lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù là hết sức đúng đắn, phù hợp thực tiễn và chủ trương hiện hành về đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế của Việt Nam đối với từng lĩnh vực nêu trên.

Với tinh thần đó, trong năm 2018, theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức tổng kết thực tiễn thi hành các quy định tương trợ tư pháp về hình sự của Luật tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân để phục vụ việc đề xuất đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội dự án Luật tương trợ tư pháp về hình sự.

Kết quả tổng kết thực tiễn cho thấy công tác ủy thác tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài nói chung, tại Tòa án nhân dân nói riêng còn gặp nhiều bất cập, hạn chế, khó khăn và chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân sau đây: (i) Trình tự, thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài và tiếp nhận, xử lý yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài còn chưa cụ thể, chi tiết đến mức có thể áp dụng trực tiếp để thực hiện nhưng Luật tương trợ tư pháp không cho phép ban hành văn bản hướng dẫn thi hành (ii) Quy trình xử lý yêu cầu ủy thác tư pháp tại Việt Nam và ở nước ngoài còn qua nhiều khâu trung gian nên mất nhiều thời gian thực hiện và chờ đợi kết quả thực hiện; (iii) Công tác phối hợp về quản lý nhà nước giữa các cơ quan trung ương có liên quan chưa được quy định trong Luật tương trợ tư pháp; (iv) Kinh phí thực hiện công tác ủy thác tư pháp không được cấp cho các cơ quan thực hiện.

Những khó khăn, hạn chế, bất cập nêu trên đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài cũng như hoạt động hợp tác về tố tụng hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài trong phòng chống tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nên cần phải sớm được khắc phục.

Từ kết quả tổng kết nêu trên, trong thời gian tới, đặc biệt là từ năm 2019 trở đi, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tích cực, chủ động hơn nữa trong việc phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp tiến hành các công việc chuẩn bị cho việc đề xuất xây dựng các dự án Luật tương ứng với từng lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2. Công tác phối hợp đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp

2.1. Công tác phối hợp góp ý, đàm phán, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương

Trong năm 2018, hoạt động đàm phán, ký kết điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong các lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù có những bước tiến đáng ghi nhận về cả số lượng và chất lượng các điều ước được đề xuất đàm phán, tiến hành đàm phán, ký kết. Về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, Việt Nam đã hoàn tất việc đàm phán, ký hiệp định với Hung-ga-ri; hoàn thiện hồ sơ đề xuất đàm phán hiệp định với Ấn Độ, Thái Lan. Về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự, Việt Nam đã tiến hành đàm phán thành công hiệp định với từng nước: Cu Ba, Mô-dăm-bích, U-dơ-bê-ki-xtan; đang đề xuất đàm phán hiệp định với các nước khác như: Nhật Bản, I-xra-en, I-ran, I-ta-li-a. Về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Việt Nam đã tiến hành đàm phán Hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù với Mông Cổ, Ca-dắc-xtan; chuẩn bị đàm phán 6 Hiệp định về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù với các nước: I-xra-en, I-ta-li-a, Bun-ga-ri; đề xuất đàm phán 12 hiệp định về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù với các nước khác; thực hiện thủ tục phê chuẩn Hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Cộng hòa Séc.

Kết quả nêu trên phản ánh sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan trung ương về công tác điều ước quốc tế của năm 2018. Trong quá trình đó, Tòa án nhân dân tối cao đã tích cực đóng góp ý kiến bằng văn bản vào dự thảo hiệp định hoặc cử cán bộ có năng lực tham gia các đoàn đàm phán về hiệp định giữa Việt Nam với nước ngoài. Về cơ bản, các văn bản đóng góp ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao có chất lượng tốt, là một trong những cơ sở để các cơ quan chủ trì đàm phán giải trình, chỉnh lý, hoàn thiện phương án đàm phán trước khi tiến hành đàm phán hiệp định.

Tựu trung lại, có thể nhận thấy trong năm 2018 công tác điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù đã được quan tâm, chú trọng, thể hiện được sự cố gắng, trách nhiệm của các cơ quan trung ương. Theo đó, đã có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời giữa cơ quan chủ trì với các cơ quan khác trong việc đề xuất đàm phán, góp ý dự thảo hiệp định, phương án đàm phán hiệp định. Từ đó, công tác đàm phán, ký kết hiệp định giữa Việt Nam với nước ngoài đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận thể hiện bằng việc một số hiệp định đã được đàm phán thành công cũng như đã được Việt Nam và nước ngoài cùng nhau ký kết. Sau khi có hiệu lực, những hiệp định này là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường hoạt động hợp tác về tố tụng dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam với nước thành viên hiệp định.

2.2. Công tác phối hợp nghiên cứu, gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về dân sự

Từ trước tới nay, tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài và thu thập chứng cứ ở nước ngoài là hai thủ tục quan trọng của công tác giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao thường gặp khó khăn. Hiện nay, khó khăn về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng đã cơ bản được giải quyết bằng việc Việt Nam gia nhập Công ước tống đạt giấy tờ.

Sau khi gia nhập Công ước tống đạt giấy tờ, với tinh thần việc gia nhập các điều ước quốc tế đa phương phải bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, khắc phục được khó khăn phát sinh từ các vụ việc dân sự do Tòa án Việt Nam giải quyết, Tòa án nhân dân tối cao đã cùng với Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước La Hay về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước thu thập chứng cứ). Đây là một Công ước của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế có hiệu lực từ năm 1972 và cho đến thời điểm hiện nay đã có 61 nước gia nhập. Đáng chú ý là các nước mà Tòa án Việt Nam thường có yêu cầu thu thập chứng cứ khi giải quyết vụ việc dân sự như: Hoa Kỳ, Anh, Ốt-xtrây-li-a, Đức và Xing-ga-po đều là thành viên của Công ước này. Qua nghiên cứu, đánh giá, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng các quy định của Công ước này cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam nên việc gia nhập Công ước này trong tương lai là có tính khả thi. Trên tinh thần đó, trong năm 2018, Tòa án nhân dân tối cao đã tích cực phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng hồ sơ gia nhập Công ước này vào năm 2019.

Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao cũng đang cùng Bộ Tư pháp bước đầu tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 11/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch chuẩn bị gia nhập Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em quốc tế giai đoạn 2018-2021.

III. TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN YÊU CẦU ỦY THÁC TƯ PHÁP VỀ DÂN SỰ, YÊU CẦU DẪN ĐỘ, CHUYỂN GIAO NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ

Trong năm 2018, số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của các Tòa án cấp tỉnh ra nước ngoài và yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài do Tòa án cấp tỉnh thực hiện có giảm đáng kể so với năm 2017. Bên cạnh đó, một số Tòa án cấp tỉnh cũng đã bắt đầu thực hiện một số yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự, xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Cụ thể như sau:

1. Kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao để giải quyết vụ việc dân sự

Trong thời gian từ ngày 01/10/2017 đến ngày 31/8/2018, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã gửi ra nước ngoài 2069 hồ sơ ủy thác tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.

Trong đó, có 94 yêu cầu (chiếm 4%) được gửi theo kênh ngoại giao; 1975 yêu cầu (chiếm 96%) được gửi theo kênh điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (1291 yêu cầu theo kênh Công ước tống đạt giấy tờ và 684 yêu cầu theo kênh hiệp định tương trợ tư pháp).

Số lượng các yêu cầu gửi cho đương sự ở nước ngoài trong các vụ án dân sự là chiếm gần 52%; vụ án hôn nhân và gia đình chiếm gần 46%; vụ án kinh doanh, thương mại và lao động chiếm 2%. Các hồ sơ ủy thác tư pháp chủ yếu được gửi đến các nước, vùng lãnh thổ thành viên hiệp định, thỏa thuận tương trợ tư pháp với Việt Nam như: Trung Quốc, Đài Loan; các nước thành viên của Công ước tống đạt giấy tờ, bao gồm: Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Úc, Ca-na-đa.

Về kết quả, các Tòa án đã nhận được 1158 thông báo kết quả thực hiện, trên tổng số 2069 yêu cầu ủy thác tư pháp, đạt tỷ lệ 56%. Trong đó, có 11/94 yêu cầu gửi theo kênh ngoại giao; 736/1291 yêu cầu gửi theo kênh Công ước tống đạt giấy tờ và 411/684 yêu cầu gửi theo kênh hiệp định tương trợ tư pháp được thực hiện. Ngoài ra, trong năm 2018, các Tòa án cấp tỉnh còn nhận được 951 thông báo kết quả thực hiện đối với các yêu cầu ủy thác tư pháp của năm 2016 và năm 2017. Với kết quả nêu trên, các Tòa án cấp tỉnh có thêm cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý, giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

2. Kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của cơ quan thẩm quyền nước ngoài

Trong thời gian từ ngày 01/10/2017 đến ngày 31/8/2018, các Tòa án cấp tỉnh đã nhận được 989 hồ sơ ủy thác tư pháp của các nước, bao gồm: 770 hồ sơ yêu cầu của những nước thành viên của hiệp định tương trợ tư pháp; 210 hồ sơ yêu cầu từ các nước thành viên Công ước tống đạt giấy tờ; 09 hồ sơ yêu cầu của nước khác theo nguyên tắc có đi có lại. Các yêu cầu ủy thác tư pháp chủ yếu là tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc ly hôn mà một bên đương sự cư trú tại Việt Nam hoặc trở lại Việt Nam cư trú sau một thời gian sinh sống ở nước ngoài.

Về kết quả, các Tòa án cấp tỉnh đã tiến hành thực hiện 580/989 yêu cầu, đạt tỷ lệ 59%. Trong đó, có 445/770 yêu cầu theo kênh hiệp định tương trợ tư pháp, 127/210 yêu cầu theo kênh Công ước tống đạt giấy tờ và 8/9 yêu cầu theo kênh ngoại giao đã được thực hiện. Bên cạnh đó, các Tòa án còn hoàn thành 265 yêu cầu ủy thác tư pháp của các năm 2016 và năm 2017.

Số lượng 409 yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài chưa được thực hiện chủ yếu là những yêu cầu mới nhận được vào các tháng 7 và tháng 8 năm 2018, đang được các Tòa án cấp tỉnh xác minh địa chỉ của đương sự để triển khai thực hiện vào thời gian tới.

3. Kết quả xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Trong năm 2018, Tòa án cấp tỉnh xem xét, giải quyết 2 yêu cầu dẫn độ người có hành vi phạm tội của Cộng hòa Séc và Cộng hòa Bun-ga-ri. Trong đó, Tòa án đã chấp nhận yêu cầu dẫn độ của Cộng hòa Bun-ga-ri; hiện nay, người bị yêu cầu dẫn độ đã được Việt Nam bàn giao cho Bun-ga-ri.

Bên cạnh đó, Tòa án đang tiến hành xem xét 04 yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù của các nước: Úc và Nga; 02 yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù từ Nga về Việt Nam.

Nhìn chung, công tác xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Tòa án cấp tỉnh phát sinh không nhiều nhưng do đây là loại việc mới nên các Tòa án được giao nhiệm vụ này phải hết sức cố gắng để triển khai thực hiện trên thực tế.

IV. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Về kết quả đạt được trong năm 2018

Trong công tác quản lý nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao đã bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của năm 2018 về công tác tương trợ tư pháp, kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo Tòa án các cấp tổ chức thực hiện đúng, thống nhất khi phát sinh yêu cầu, tiếp nhận và giải quyết yêu cầu theo quy định của pháp luật. Cùng với đó, Tòa án nhân dân tối cao đã và đang tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hướng dẫn Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao áp dụng thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế trong lĩnh vực này. Tòa án nhân dân tối cao cũng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và bộ, ngành liên quan để bàn và thống nhất biện pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.

Trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, với tinh thần xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu, Tòa án nhân dân tối cao đã chú trọng, thực hiện tốt công tác đánh giá, tổng kết thực tiễn thi hành Luật tương trợ tư pháp hiện hành để phục vụ công tác phối hợp xây dựng dự án Luật tương trợ tư pháp về hình sự.

Trong công tác đàm phán, ký kết, gia nhập và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, trên cơ sở đánh giá đúng vai trò của công tác tương trợ tư pháp đối với hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự, hình sự, yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, Tòa án nhân dân tối cao đã kịp thời đóng góp ý kiến vào dự thảo các điều ước quốc tế; tích cực nghiên cứu, ban hành văn bản để triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ điều ước quốc tế mà Việt Nam mới gia nhập tại Tòa án trong phạm vi toàn quốc; qua đó, góp phần đưa công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án ngày càng đạt hiệu quả, chất lượng, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.

Trong công tác tổ chức thực hiện, trên cơ sở chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao và căn cứ thẩm quyền trách nhiệm của mình, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện khi phát sinh yêu cầu ủy thác tư pháp. Cụ thể, đối với công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao cơ bản đã tuân thủ quy trình lập, gửi hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại TTLT số 12/2016 nên hạn chế được tình trạng hồ sơ ủy thác tư pháp bị trả lại để hoàn thiện. Từ đó, Tòa án có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp tục giải quyết vụ án; hạn chế được một phần tình trạng Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả ủy thác tư pháp như những năm trước đây. Đối với việc thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, các Tòa án cấp tỉnh đã tích cực tiến hành xác minh địa chỉ của đương sự, thực hiện việc tống đạt trực tiếp hầu hết các yêu cầu ủy thác.

2. Về các khó khăn, hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng công tác tương trợ tư pháp năm 2018 mà chủ yếu là công tác ủy thác tư pháp trong tố tụng dân sự và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài vẫn còn những khó khăn, tồn tại nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại các Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp cao và cam kết giữa Việt Nam và nước ngoài về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự. Thực trạng này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có cả nguyên nhân thể chế và thực thi pháp luật.

2.1. Về các khó khăn, hạn chế và bất cập

a) Về công tác quản lý nhà nước của Tòa án nhân dân tối cao

Từ nhiều năm nay, khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự, yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù cho Tòa án cấp tỉnh thực hiện, thì Tòa án nhân dân tối cao không được các cơ quan này thông báo để có thể phối hợp xử lý những yêu cầu phức tạp hoặc kịp thời hỗ trợ, cung cấp thông tin, điều ước quốc tế liên quan để Tòa án cấp tỉnh thực hiện. Tình hình đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Tòa án cấp tỉnh cũng như công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện của Tòa án nhân dân tối cao đối với Tòa án cấp tỉnh trong các lĩnh vực này.

b) Về công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án các cấp

Qua tổng kết thực tiễn, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao vẫn còn gặp một số khó khăn chủ yếu sau đây:

(i) Số lượng hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài mà cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không thực hiện được cũng như chưa được thực hiện còn chiếm tỷ lệ lớn (44%) trong tổng số hồ sơ của Tòa án gửi ra nước ngoài;

(ii) Quy định của một số nước thành viên Công ước tống đạt giấy tờ, đặc biệt là Ca-na-đa gây khó khăn cho Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao khi ủy thác cho nước này thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng.

c) Về công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài

Trong năm 2017, mặc dù kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài đã có những tiến bộ so với năm trước nhưng vẫn còn một số tồn tại và khó khăn chủ yếu sau đây:

(i) Một số Tòa án cấp tỉnh còn mất nhiều thời gian khi thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;

(ii) Đa số Tòa án cấp tỉnh không đủ nguồn nhân lực và không được cấp kinh phí để thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

2.2. Về nguyên nhân của các khó khăn, hạn chế và bất cập

Qua tổng kết tình hình thực hiện công tác tương trợ tư pháp năm 2017, Tòa án nhân dân tối cao thấy rằng các các khó khăn, hạn chế nêu trên của công tác này xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

a) Đối với công tác quản lý nhà nước của Tòa án nhân dân tối cao

Luật tương trợ tư pháp hiện hành quy định về trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong công tác tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, xem xét yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù chưa tương xứng với nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thể, theo quy định tại Điều 63 Luật này, thì Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm:

(i) Hướng dẫn Tòa án các cấp thực hiện tương trợ tư pháp;

(ii) Xem xét, quyết định các yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo thẩm quyền;

(iii) Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ Tư pháp tình hình thực hiện tương trợ tư pháp thuộc thẩm quyền.

Tuy nhiên, ngoài ba nhiệm vụ nêu trên, Luật tương trợ tư pháp hiện hành không có quy định khác về trách nhiệm phối hợp của Tòa án nhân dân tối cao đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong công tác tương trợ tư pháp về hình sự, dân sự, xem xét yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Từ đó, đã ảnh hưởng đến việc phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao các cơ quan nêu trên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về các lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự, dân sự, xem xét yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.

b) Đối với công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án

Hiện nay, đương sự ở nước ngoài trong các vụ án dân sự do Tòa án cấp tỉnh giải quyết trong năm 2018 có địa chỉ cư trú hoặc nơi làm việc tại hơn 35 nước, vùng lãnh thổ. Do đó, các cán bộ, Thẩm phán của các Tòa án cấp tỉnh không có đủ trình độ ngoại ngữ để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của địa chỉ của đương sự ở các nước, vùng lãnh thổ nêu trên. Trong khi đó, do điều kiện kinh tế, xã hội ở nước ngoài khác với Việt Nam nên đa số các đương sự ở nước ngoài không có địa chỉ cư trú lâu dài, ổn định và hay thay đổi địa chỉ cư trú. Thậm chí trong nhiều vụ án, thì giữa đương sự ở trong nước và đương sự ở nước ngoài không có mối quan hệ gắn bó hoặc chấm dứt liên lạc với nhau trong một thời gian dài nên đương sự ở trong nước không thể biết được địa chỉ hiện tại của đương sự ở nước ngoài. Do đó, khi đương sự ở nước ngoài thay đổi địa chỉ cư trú hoặc làm việc, thì đương sự ở trong nước không có khả năng để cung cấp địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài cho Tòa án khi nộp đơn khởi kiện hoặc trong quá trình Tòa án giải quyết. Tình trạng này là nguyên nhân chính của việc hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án tuy được thực hiện nhưng không có kết quả với lý do chủ yếu là địa chỉ không chính xác, đầy đủ hoặc đương sự đã chuyển nơi cư trú nhưng không rõ địa chỉ mới.

c) Đối với công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài

Từ nhiều năm nay, khi thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, các Tòa án cấp tỉnh đã và đang gặp khó khăn trong việc xác định địa chỉ tống đạt, họ tên của người cần phải tống đạt. Theo đó, một mặt, có những trường hợp xuất phát từ việc bản dịch ra tiếng Việt của văn bản cần phải tống đạt cho đương sự ở Việt Nam chưa bảo đảm yêu cầu. Ví dụ: dịch không đúng tên quận, huyện, xã, phường hoặc dịch ra từ Hán-Việt địa chỉ nơi cư trú của người cần được tống đạt. Mặt khác, có những trường hợp đương sự ở Việt Nam đã không còn cư trú tại địa chỉ ghi trên văn bản cần tống đạt hoặc địa chỉ cần tống đạt chỉ ghi tên tỉnh, huyện, xã mà không cụ thể đến thôn, xóm, tổ. Do đó, trong những trường hợp này, Tòa án đã mất rất nhiều thời gian để xác minh địa chỉ tại chính quyền địa phương để làm căn cứ cho việc tống đạt văn bản cho đương sự.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Thông tư số 144/2012/TT-BTC ngày 04/9/2012 của Bộ Tài chính “Quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác tương trợ tư pháp”, thì Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp tỉnh được ngân sách nhà nước bảo đảm cho việc thực hiện công tác ủy thác tư pháp. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án cấp tỉnh không được cấp kinh phí theo quy định của Thông tư nêu trên để triển khai công tác. Do đó, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Tòa án nhân dân tối cao và việc thực hiện yêu cầu ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền của các Tòa án cấp tỉnh bị ảnh hưởng rất lớn. Nếu tình trạng này không được khắc phục, thì sẽ tác động tiêu cực đến công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài của Tòa án các cấp. Theo đó, các nước mà Việt Nam yêu cầu tống đạt văn bản tố tụng có thể sẽ áp dụng nguyên tắc có đi có lại để không thực hiện các yêu cầu ủy thác của Việt Nam khi các yêu cầu ủy thác của những nước này không được Việt Nam thực hiện. Trong khi đó, theo kết quả thống kê từ nhiều năm nay, thì số lượng hồ sơ ủy thác tư pháp ra nước ngoài chủ yếu phát sinh từ các vụ án ly hôn giữa nguyên đơn là người vợ trong nước xin ly hôn với bị đơn là người chồng đang cư trú ở nước ngoài. Trong năm 2018, số lượng vụ án hôn nhân và gia đình phát sinh yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài chiếm gần 46% tổng số yêu cầu ủy thác tư pháp. Như vậy, nếu xảy ra trường hợp này, thì hàng nghìn vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài mà Tòa án cấp tỉnh đang giải quyết sẽ bị ảnh hưởng; từ đó, vụ việc dân sự sẽ bị kéo dài thời hạn giải quyết; đặc biệt, có nguy cơ làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người phụ nữ và trẻ em trong các vụ án về ly hôn có đương sự ở nước ngoài.

PHẦN THỨ HAI

NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Trên cơ sở tình hình và kết quả hoạt động tương trợ tư pháp của năm 2018 và trước yêu cầu đặt ra đối với công tác này, Tòa án nhân dân tối cao xác định các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu trong năm 2019 như sau:

I. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2019

1. Về công tác quản lý nhà nước hoạt động tương trợ tư pháp

- Tiếp tục chỉ đạo các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao thực thi có chất lượng, hiệu quả công tác tương trợ tư pháp. Trên cơ sở đó, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao tích cực, chủ động thực hiện tốt các khâu chuẩn bị cho các yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

- Tiếp tục chỉ đạo triển khai thi hành Quyết định số 25/QĐ-TANDTC ngày 9/3/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Công ước tống đạt giấy tờ tại Tòa án nhân dân.

- Tổ chức một số lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về công tác tương trợ tư pháp, tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Công ước tống đạt giấy tờ và Thông tư liên tịch số 12/2016 cho các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao;

- Tăng cường hoạt động kiểm tra, đôn đốc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao thông qua việc tổ chức một số đoàn kiểm tra trực tiếp tại một số Tòa án cấp tỉnh.

- Tăng cường phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc giải quyết các vấn đề liên ngành phát sinh trong quá trình triển khai công tác tương trợ tư pháp và trên cơ sở tiến hành tổng kết thực tiễn định kỳ 6 tháng và hàng năm.

2. Về công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật và công tác đàm phán, ký kết, nghiên cứu gia nhập điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp

- Tích cực tham gia các hoạt động phối hợp để triển khai việc đề xuất xây dựng các dự án Luật độc lập trong các lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự, dân sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Tích cực tham gia đóng góp ý kiến, đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, dân sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài theo đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan trong việc trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp với Việt Nam để có hướng xử lý thích hợp.

- Tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tiến hành nghiên cứu nội dung, mục đích, thực tiễn tham gia, thi hành một số công ước liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, bao gồm Công ước La Hay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại và Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em quốc tế.

3. Về thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao tập trung tổ chức triển khai nghiêm túc, có hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất cho Tòa án nhân dân tối cao về kết quả hoạt động tương trợ tư pháp cùng các kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn để Tòa án nhân dân tối cao kịp thời chỉ đạo khắc phục hoặc phối hợp với cơ quan hữu quan để thống nhất phương án giải quyết.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Để từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập và hoàn thành tốt công tác tương trợ tư pháp của năm 2019, Tòa án nhân dân tối cao tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả, chất lượng các giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Tăng cường công tác hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ, kiểm tra, đôn đốc thực hiện công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao.

2. Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc thống nhất các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến trách nhiệm chung của liên ngành trong công tác tương trợ tư pháp.

3. Đẩy mạnh công tác thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài và yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao.

4. Tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao; tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho công tác tương trợ tư pháp.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Để bảo đảm ngày càng tốt hơn hiệu quả, chất lượng, thời gian, tiến độ thực hiện công tác phối hợp về tương trợ tư pháp giữa các cơ quan trung ương và công tác tương trợ tư pháp của các Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp cao, Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị:

1. Về công tác phối hợp giữa các cơ quan trung ương trong công tác tương trợ tư pháp

1.1. Về đơn vị đầu mối liên hệ của Tòa án nhân dân tối cao

Đề nghị Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao trong triển khai công tác tương trợ tư pháp, xây dựng hoàn thiện thể chế, đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thì liên hệ thông qua Vụ Hợp tác quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao để bảo đảm thống nhất đầu mối và tiến độ, thời gian thực hiện.

1.2. Đối với Bộ Ngoại giao  

Đề nghị Bộ Ngoại giao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ động, tích cực hơn nữa trong việc liên hệ, tham vấn, đề nghị với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đẩy nhanh tiến độ thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp của Tòa án Việt Nam.

1.3. Đối với Bộ Tư pháp

- Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường trao đổi thông tin, đề xuất với những nước thành viên Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam về việc tổ chức các cuộc họp định kỳ hàng năm hoặc hai năm đánh giá tình hình kết quả tương trợ tư pháp giữa hai bên trên lãnh thổ của mỗi nước.

- Đề nghị Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao tổ chức các cuộc họp định kỳ để trao đổi thông tin, thảo luận, quyết định các biện pháp phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự.

1.4. Đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ ngoại giao tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn định kỳ hàng năm về pháp luật trong nước, điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, hướng dẫn nghiệp vụ hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự cho các cán bộ thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp.

- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao tổ chức các cuộc họp định kỳ 6 tháng để trao đổi thông tin, thảo luận, quyết định các biện pháp phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.

- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an nghiên cứu soạn thảo, ban hành biểu mẫu văn bản yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự ra nước ngoài, văn bản thông báo kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài để Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan điều tra thống nhất sử dụng.

- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi gửi thông báo về việc hồ sơ ủy thác tư pháp đã chuyển ra nước ngoài (hoặc cho Bộ Ngoại giao) và kết quả thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp cho Tòa án đã có yêu cầu ủy thác tư pháp, thì đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi thêm thông báo này cho Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Hợp tác quốc tế) để Tòa án nhân dân tối cao có điều kiện cập nhật thông tin, phục vụ công tác chỉ đạo, hướng dẫn công tác tương trợ tư pháp về hình sự trong hệ thống Tòa án.

1.5. Đối với Bộ Công an

- Đề nghị Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn định kỳ hàng năm về pháp luật trong nước, điều ước quốc tế về dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù cho các cán bộ thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp.

- Đề nghị Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan tổ chức các cuộc họp định kỳ 6 tháng để trao đổi thông tin, thảo luận, quyết định các biện pháp phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.

- Đề nghị Bộ Công an khi gửi hồ sơ yêu cầu dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù cho Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết, thì thông báo cho Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Hợp tác quốc tế) để cập nhật thông tin, phục vụ công tác quản lý nhà nước trong hệ thống Tòa án.

2. Về kinh phí bảo đảm công tác tương trợ tư pháp

- Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình báo cáo, kiến nghị Chính phủ chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn về kinh phí thực hiện công tác tương trợ tư pháp tại các cơ quan liên quan, trong đó có Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án cấp tỉnh để bảo đảm thực hiện tốt, có hiệu quả, chất lượng công tác này theo quy định của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Trên đây là Thông báo của Tòa án nhân dân tối cao về tình hình và kết quả hoạt động tương trợ tư pháp năm 2018 tại Tòa án nhân dân để Bộ Tư pháp tổng hợp xây dựng dự thảo Báo cáo trình Chính phủ về công tác tương trợ tư pháp./.

Nơi nhận:

- Như trên;

- Đ/c Chánh án TANDTC (để báo cáo);

- Các đồng chí PCA TANDTC (để biết);

- Lưu: VT, VHTQT (TANDTC).

 

KT. CHÁNH ÁN

PHÓ CHÁNH ÁN

Đã ký

Nguyễn Thúy Hiền

Lượt xem: 125

Trang thông tin điện tử tương trợ tư pháp

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượt truy cập:

Địa chỉ: 262 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Cán bộ phụ trách: Lê Mạnh Hùng - Chức vụ: Phó Vụ trưởng
Điện thoại: +84.24.376.230.36; 0976437814
Email: phapluatquocte@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Đề nghị ghi rõ nguồn (Trang TTĐT Tương trợ tư pháp - Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án nhân dân tối cao) khi đăng tải lại các thông tin, nội dung từ tttp.toaan.gov.vn.

ácdscv